Niết Bàn
(Tâm Bất Nhị, Trung Đạo, Vô Ngã, Tánh Không, Bản Lai Diện Mục)
(2/2)
─◊─
Trang:   (1)  (2)
 
4.- Tâm Phân Biệt Ta/Người trong Kinh Kim Cang.
 
Trong kinh Kim Cang, sự rốt ráo cùng tột của tâm “không phân biệt”, được đức Phật giải thích  khi ông Tu Bồ Đề hỏi ngài về cách trụ tâm và hàng phục tâm. Ngài nói:
 
Đối với tất cả các loài chúng sinh, (….), ta đều độ cho nhập vào vô dư Niết bàn. Như vậy diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả (1) , thì chẳng phải là Bồ-tát.
 
Bố thí là hạnh hàng đầu trong lục hạnh ba-la-mật. Đưa chúng sinh vào Niết bàn là “bố thí pháp” cho chúng sinh, nhưng lại… không thấy chúng sinh nào được đưa vào Niết bàn, đó là do nơi tâm vị bồ tát đã bỏ hẳn ý niệm phân biệt TA/NGƯỜI, TA/CHÚNG SINH, TA/THỌ GIẢ (người cho/người nhận, không còn ý niệm người cho (là TA) - vật cho - người nhận: tam luân không tịch). Đó là dứt hẳn tâm phân biệt Nhân/Ngã hay tâm Duy Ngã Độc Tôn. 
 
Như vậy một vị Bồ-tát phải là người không còn mang cái tâm phân biệt TA/NGƯỜI. Và chính đức Phật cũng lấy mình làm ví dụ như thế khi ngài nói:
 
Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Các ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: “ta đang độ chúng sinh”. Tu-bồ-đề! Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ! Nếu có chúng sinh được Như Lai độ, Như Lai tất có tướng ngã, nhân, chúng, sinh, thọ giả.
 
Đối với một người khác có thể thấy hành động của đức Phật là "độ chúng sinh", nhưng đối với chính ngài thì ngài không thấy vì ngài không còn mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI nên không còn mang ý niệm "có người cho và có người nhận", TA là NGƯỜI, NGƯỜI là TA, hòa đồng như một, không còn phân biệt.
 
Nói về pháp và cũng là Phật qủa “Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác”, ngài thuyết với ông Tu-bồ-đề: 

Lại nữa, Tu-bồ-đề! Pháp này
bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác (2) . Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, mà tu hết thẩy các pháp lành, tức thành (quả) Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác.
Nói về hạnh nhẫn nhục, vũ khí để chống lại lòng sân hận, đức Phật lấy ví dụ về trường hợp chính bản thân mình:
 
Như ta xưa kia bị vua Ca-ly cắt xẻo thân thể từng phần. Lúc bấy giờ, ta không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì sao vậy? Trong lúc ta bị cắt xẻo từng phần thân thể, nếu có các tướng ngã, nhân chúng sinh, thọ giả, tất phải sinh lòng sân hận.
 
Khi không còn tâm phân biệt nhân/ngã thì không còn lòng sân hận nữa. Đây cũng là cái tâm của chúa Jesus, khi ngài tha thứ cho những người đã đưa ngài lên đóng đinh trên thập tự giá.
 
5.- Đường Về.
 
Ta có thể hình dung con đường trở về cái “bản lai diện mục” như sau:
 
4.1.■ Cái đích của đường về là Niết bàn, là Phật tánh (tánh giác ngộ): ở đó không còn tâm nhị nguyên đối đãi, mà là tâm bất nhị, là vô ngã, là trung đạo, là tánh không. Chữ KHÔNG rốt ráo và tột cùng là không còn “duy ngã độc tôn”, không phân biệt Ta-Người. Cái đích đó chính là “mặt trăng” mà đức Phật chỉ cho chúng ta. Tìm tới đích là GIÁC NGỘ, giác ngộ là PHẬT.
 
4.2.■ Phương pháp nào để tới được cái đích GIÁC NGỘ ấy:
   ─ Là diệt tham sân si. Nhưng tham sân si chính là quả của cái nhân “duy ngã độc tôn” (hay  “phân biệt nhân ngã”), nên phải bỏ cái tâm “duy ngã độc tôn”, cũng là bỏ lòng vị kỷ, tự cao, ích kỷ, tự ái.
   ─ Bỏ tâm “duy ngã độc tôn” có nghĩa là xóa bỏ ranh giới phân biệt giữa người và ta, sống hòa đồng với người, sống vì tha nhân, sống vị tha không vị kỷ, “thương người như thể thương thân”
   ─ Nhưng làm sao “thương người như thể thương thân”? ─ Vấn đề là ở đây! ─ Nếu thật lòng cho đi mà không cầu đền đáp (bố thí mà tâm không chỗ trụ), biết tha thứ và thực lòng tha thứ, biết nhận lỗi và thực lòng nhận lỗi, thực lòng hoan hỉ mà không ganh tị trước thành đạt của người khác, biết đau cùng nỗi đau của người khác… thì bớt đi lòng tham, thù oán sân hận, và tính kiêu mạn lẫn ganh tị...Khi giảm được tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, thì sự phân biệt Ta-Người mới giảm, để rồi dần dần xóa hẳn biên giới giữa ta và người, trở về với bản tâm ban đầu là tâm không phân biệt nhân ngã, tâm bất nhị, hay Phật tánh.
 
Đức Phật đưa ra rất nhiều phương pháp, từ thấp tới cao tùy theo trình độ để hướng dẫn con người tu sửa tâm mình để quay về với Phật tánh: đó là Phật PHÁP
 
4.3.■ Con đường tu tâm không hẳn là dễ, không phải ai cũng nhận ra đường đi nước bước, có khi lạc lối vào những con đường lầm lạc mê tín dị đoan, nên cũng cần sự hướng dẫn của các vị thiện tri thức, thường là các tập thể Tăng Ni, trong đó quan trọng nhất là các vị cao TĂNG.
 
Đó là “ba ngôi tam bảo: Phật-Pháp-Tăng”, PHẬT là Phật tánh, là cái đích, PHÁP là phương pháp của đức Phật để đi tới cái đích, TĂNG là những người hướng dẫn trợ giúp ta tới đích. Theo Phật Giáo, con đường tìm giải thoát là quy y tam bảo .
 
Con đường đi hẳn là lắm khó khăn gai góc, mỗi người phải “tự thắp đuốc lên mà đi”, hoặc“ là hải đảo nương tựa của chính mình”, tự chèo bè lấy, phải chiến đấu với chính mình để thắng tham, sân, si, kiêu mạn… Thắng tham sân si thì không còn “duy ngã độc tôn”, không phân biệt Ta Người nữa, là quên mình để hòa đồng với người, Ta = Người, hạnh phúc của Người cũng chính là hạnh phúc của Ta. Đó là vô ngã hay vị tha, mà vô ngã là Niết bàn.
 
Thắng người ngoài có thể còn dễ, nhưng thắng chính mình quả là khó khăn. Làm sao mà có thể cho đi những cái mình si mê mà không cầu mong đáp trả (bố thí mà không trụ và đâu), làm sao mà lấy ân trả oán, làm sao có thể thương yêu kẻ thù như chính mình, như người thân của mình (mà đạo lý đời thường là lấy máu trả máu, răng đền răng mắt đền mắt)… ─ Phải là tự mình chiến đấu với chính mình thôi.
 
Đây là lời đức Phật về cuộc chiến này:  “Chiến thắng trăm vạn địch quân ngoài chiến trường không bằng chiến thắng chính mình. Chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất”. (Pháp cú).
 
Không ai có  thể  chiến và  thắng dùm cho mình được cả , vì:
 
"Tự mình làm điều ác, tự mình làm mình nhơ uế,
Tự mình  bỏ điều ác, tự mình làm mình thanh tịnh.
Thanh tịnh hay nhơ uế đều tùy thuộc mình,
Không ai làm người khác thanh tịnh được." (Pháp cú)
 
Cuộc chiến với chính mình tạo xung đột trong nội tâm thường gây bất an và đau xót tựa như gươm chém giáo đâm, đây cũng là ý nghĩa câu nói của chúa Jesus:"Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo" (Mt 10,34).(“Bình an” ở đây là sự bình an trong nội tâm của mỗi người, “gươm giáo” ý nói là sự đau đớn ray rứt như gươm chém giáo đâm trong nội tâm. (3) )
 
Chỉ được bình an vĩnh viễn khi ta chiến thắng được chính mình ./.
 
Trang:   (1)  (2)
 Duy Đức
(July/2008)
 
Home     Top    
_______
 
GHI CHÚ:
 
(1) Thọ giả: hầu hết các bản dịch hán văn ghi chữ “thọ” là tuổi thọ. Nhưng riêng có bản dịch của ngài Chân đế (giữa thế kỷ 16) thì chú giải “chữ thọ là chịu”, (theo bài viết “Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật ” do hòa thượng Thích Trí Quang lược giải: đoạn 7 mục b: “ngã chấp trong kinh Kim Cương”). Do đó có thể hiểu chữ "thọ" nói trên là "chịu" hay "nhận" (bố thí), và "thọ giả" là "người nhận" (bố thí). Vì vậy  "ngã/thọ giả" cũng là TA (người cho) và NGƯỜI (người nhận)

(2)
Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, là pháp Phật và cũng là Phật qủa:
       ▪ Vô thượng: không cao không thấp, (đó là tâm bất nhị, cũng là tâm vô phân biệt)
       ▪ Chánh đẳng: hoàn toàn bình đẳng, (hoàn toàn như nhau, đó là tâm vô phân biệt).
       ▪ Chánh giác: hoàn toàn giác ngộ.
Như vậy, người hoàn toàn giác ngộ là người không còn mang tâm phân biệt, là tâm bất nhị. Sau đây là lời đức Phật trích trong kinh Kim Cương: "Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà tu hết thảy các pháp lành, tức thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác"
 
(3) Ngoài ý nghĩa sự tranh đấu trong nội tâm, còn ý nghĩa về những khó khăn xung đột bên ngoài có thể xảy ra khi theo con đường của Chúa Giê-su:
 
"Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho thế gian; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa người ta với cha mình, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.  Kẻ thù của mình chính là người nhà." (Mt 10:34-36)
 
Con người thường ai cũng mang lòng vị kỷ và cho đó là điều tự nhiên, do đó ai cũng để lợi ích cá nhân và gia đình lên trên hết. Nếu bây giờ có người theo đường lối của chúa Giê-su, bỏ tính vị kỷ, để vì người, không phân biệt thân sơ ta/người, để "yêu người như yêu bản thân mình", như yêu cha mẹ, anh em mình, san sẻ những gì mình hay gia đình mình có cho người ngoài (người dưng nước lã), thì có thể không tránh khỏi sự bất hoà trong gia đình vì tư lợi bị sứt mẻ, gây chia rẽ trong gia đình giữa con cái cùng cha mẹ, giữa anh em với nhau.... Hoặc là nếu có kẻ thù đối với gia đình cần phải báo oán, mà có người lại đòi lấy ân mà trả oán, lại yêu kẻ thù và cầu nguyện cho họ, thì sao tránh được xích mích trong gia đình. 
 
Theo cùng đức Giê-su là phải thừ bỏ những riêng tư vị kỷ, mà xem mọi người cũng như người thân thuộc của mình.  


Website powered & layout © by TipTopWebsite.com