|
TÂM BẤT NHỊ
(Tánh Không Hai)
─◊─
Ngày còn bé, cứ tới cuối năm, thường ai cũng xốn xang trong lòng chờ mong những ngày Tết sắp đến với bao nhiêu hứa hẹn vui tươi. Thế rồi Tết đến, quả thật là vui, được ăn, được chơi, được tiền lì xì, đốt pháo, được nghe những lời nói dịu dàng...Thế nhưng, qua tới ngày mồng 2, hay qúa lắm là 3 Tết, ta bắt đầu cảm thấy có nỗi buồn thấp thoáng đâu đó, vì niềm vui đang sắp sửa ra đi nhường chỗ cho những lo toan thường nhật của những ngày sau Tết. Khi đã già hơn, hẳn nhiều người trong chúng ta không còn mong chờ niềm vui của những ngày Tết, nên cũng bớt đi cái cảm giác của nỗi buồn sắp đến sau Tết, cứ để tâm mình chẳng vui chẳng buồn chẳng ngóng chờ vì Tết, nên nó tới và đi bình thản, không gây xao động.
Một buổi tiệc dù có vui cho mấy thì cũng phải tới lúc tàn, nhường chỗ cho sự buồn tẻ kế tiếp, cho dù bạn có đổ tiền bạc vào để kéo dài ra thì cũng vô ích, cũng phải tới lúc chấm dứt, cũng phải "hết vui".... Sau ngày Tết, sau buổi tiệc, "hoan hỉ" phải dứt, nhường chỗ cho "sầu muộn" đến, sớm hay muộn, không thể tránh được, chúng gắn bó với nhau như hình với bóng, như hai mặt của một đồng tiền, như vật và ảnh qua tấm gương, không thể rời nhau.
Đó hẳn là ý câu nói của đức Phật, khi ngài trả lời câu hỏi về sự hoan hỉ và sầu muộn:
-Hoan hỉ chỉ đến với người tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người tâm hoan hỉ. Không sầu muộn, không hoan hỉ, tâm ta không dao động (được bình an, tự tại)
Hoan hỉ và sầu muộn là hai tình cảm phân biệt đối nghịch nhau, như hai mặt của một đồng tiền, luôn luôn đi song hành với nhau ở người mang tâm phân biệt như chúng ta, nằm trong lý nhị nguyên, một bên là “hoan hỉ”, bên đối nghịch là “sầu muộn”. Dứt bỏ được cả hoan hỉ và sầu muộn, cũng là dứt bỏ tâm nhị nguyên, đó là "tâm bất nhị" hay tánh không hai.
Dựa theo ý của đức Phật ta có thể nói:
-- Do "hoan hỉ" có mặt nên "sầu muộn" có mặt.
-- Nếu "hoan hỉ" không có mặt thì "sầu muộn" không có mặt.
-- Do "hoan hỉ" sinh nên "sầu muộn" sinh.
-- Nếu "hoan hỉ" diệt thì "sầu muộn" diệt.
Cũng nói về tánh không hai “không khổ không vui” trong kinh Đại Niết Bàn (1) :
"Niết Bàn vốn không có sự vui, do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết Bàn. Một là vì dứt những sự vui, chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thiệt vuị. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết Bàn không khổ không vui nên Niết Bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết Bàn."
(2)
Vậy nếu bạn chưa từng có tình cảm "hoan hỉ" trong tâm, thì bạn sẽ không biết thế nào là "sầu muộn" cả.
Hoan hỉ - sầu muộn dựa trên sự được và mất những thứ mình mong muốn ( tiền bạc, của cải, sắc đẹp, quyền lực, lời khen ...). Vì vạn sự vô thường, nên cái được để hoan hỉ chẳng thể vĩnh viễn và sẽ tới lúc mất, khi mất thì sầu muộn đến, do đó mà hoan hỉ trở thành sầu muộn.
Đức Phật không còn bị ảnh hưởng của được mất nữa. Ngài có cái “hoan hỉ vĩnh viễn” khác, của người đã giải thoát là không còn mang cái “hoan hỉ - sầu muộn” của đời thường. “Hoan hỉ” đời thường là khi “được” còn “hoan hỉ “ của bậc giải thoát như đức Phật là đã dứt bỏ “được mất”.
Do đó để vĩnh viễn không còn "sầu muộn" ta phải dứt bỏ "hoan hỉ" cho tới lúc không còn sự phân biệt giữa "hoan hỉ" và "sầu muộn" nữa, (chứ không phải ta đi tìm cái hoan hỉ đời thường để chống lại cái sầu muộn, vì hoan hỉ đó chỉ tạm thời), lúc đó ta ở con đường giữa tức là "trung đạo" ( con đường giữa là con đường "không hoan hỉ cũng không sầu muộn"), là trở về với "tánh không hai" ( bất nhị : không hoan hỉ, không sầu muộn ) vốn có của bản tâm, cái tâm gốc vốn trống rỗng, thanh tịnh của con người đầu tiên, tâm của Adam trước khi ăn trái cấm. Ngược lại, nếu vẫn mang tâm phân biệt "hoan hỉ-sầu muộn", thì "hoan hỉ" và "sầu muộn" cứ thay nhau xuất hiện trong tâm ta. Người đã trở lại được với "tánh không hai" ấy mới chính là người được thoát khỏi "sầu muộn vĩnh viễn”, hay đạt được “hoan hỉ vĩnh viễn”.
Thực ra, ta chỉ tạm dùng chữ “hoan hỉ” của đời thường (khi “được”) để diễn tả cái trạng thái của tâm, lúc không còn phân biệt “hoan hỉ-sầu muộn”, chứ lúc đó không cần có một tính từ nào để diễn tả cái trạng thái đó nữa. Đó cũng là ý niệm về “tánh không” trong giáo lý Phật, cũng là ý niệm về cái “hạnh phúc Niết bàn”
■ Câu chuyện về một anh chàng bị bệnh ghẻ ngứa thường được dùng làm ví dụ về "tâm bất nhị", và cũng để giúp ta hình dung sự khác nhau giữa "hạnh phúc đời thường" và "hạnh phúc Niết bàn".
Vì vướng phải bệnh ghẻ ngứa, anh ta cảm thấy khổ sở vì cái ngứa, nhưng khi gãi đúng... chỗ ngứa anh ta cảm thấy sung sướng. Sau cái cảm giác sướng vì được gãi thì cái khổ vì ngứa lại trở lại. Như vậy cái "sướng" này được cảm nhận do có cái "khổ" vì ngứa, và ngược lại, đó là "nhị nguyên" (cái này có mặt vì cái kia có mặt), ví như "hạnh phúc đời thường" khi "được" (trong cặp nhị nguyên "được/mất": Ví dụ "được" tiền thì hạnh phúc, "mất" tiền thì đau khổ).
Khi hết bệnh, anh ta có một hạnh phúc khác hẳn: đó là không "khổ" vì ngứa cũng không "sướng" vì được gãi, đó là "tâm bất nhị" (cái này không có mặt thì cái kia không có mặt), và cái "hạnh phúc" đó được ví với..."hạnh phúc Niết bàn".
Nếu ta chưa từng mang bệnh ghẻ ngứa bao giờ, là ta vốn đã có sẵn cái "hạnh phúc Niết bàn" ấy mà ta không hề biết. Trở lại với anh chàng đã từng bị ghẻ ngứa và được chữa hết bệnh, anh ta đã được trở về với cái "hạnh phúc Niết bàn" anh ta vốn có ấy. Còn đối với ta vì chưa từng bị ghẻ ngứa, nên có sẵn cái "hạnh phúc Niết bàn" ấy mà không hề biết, nó hiện diện nhưng không có tên gọi, chữ "hạnh phúc" chỉ là mượn chữ hạnh phúc đời thường để diễn tả cho ta hiểu, mà đức Phật hay dùng chữ "thị danh" hay "giả danh".
Với Hạnh Phúc và Khổ Đau hẳn là cũng vậy, chỉ hoán đổi từ ngữ mà thôi. Hanh phúc cũng tương tự hoan hỷ, khổ đau tương tự sầu muộn. Vậy :
"Hạnh phúc chỉ đến với người tâm khổ đau, và khổ đau chỉ đến với người tâm hạnh phúc, (giữ cho tâm) không hạnh phúc không khổ đau, tâm ta không dao động (được bình an, tự tại)
Nếu bạn chưa từng mang tình cảm "hạnh phúc" trong tâm thì bạn cũng sẽ không biết "đau khổ" là gì cả, và ngược lại nếu chưa từng mang tâm "đau khổ" thì bạn cũng không có ý niệm gì về "hạnh phúc" cả, cho dù bạn sống trên đống tiền, đống vàng... những thứ người đời mơ tưởng để có hạnh phúc. Điều này cũng giống như ông Adam, vì chưa từng biết đau khổ là gì, nên dù đang được sống ở một nơi (Eden) đầy hạnh phúc mà ông không biết, nên ông đã ăn trái cây "biết phân biệt thiện ác" để rồi bước vào thế giới biết thiện biết ác và biết đau khổ.
Như vậy, để vĩnh viễn không còn "đau khổ" thì phải dứt bỏ dần cái ý niệm "hạnh phúc" khỏi tâm mình, cho tới khi nào xóa bỏ hẳn ranh giới giữa "hạnh phúc" và "khổ đau" (không còn phân biệt gữa hạnh phúc và khổ đau nữa), tức là đi con đường giữa hay "trung đạo", là trở lại với "tánh không hai" (bất nhị) vốn có của bản tâm, trở lại với cái tâm vô phân biệt ban đầu. Khi đó là "không hạnh phúc, không khổ đau", không bận tâm tới hạnh phúc hay khổ đau, là tâm được tự tại. Thế thì muốn không đau khổ thì thà đừng hạnh phúc, giống như ý mấy câu thơ sau đây:
Thiên hạ thi nhau nói khổ vui,
Biết sao là khổ biết sao vui.
Vui trong tham dục là vui khổ,
Khổ để tu hành, khổ hóa vui.
Nêu biết có vui thì có khổ,
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui.
"Đừng khổ cũng đừng vui" cũng là tánh không hai. Người trở lại được với tánh không hai chính là ngưòi "thoát khổ", hay là được "hạnh phúc" vĩnh viễn (chữ "hạnh phúc" này tạm dùng để diễn tả lúc cái tâm đã không còn phân biệt giữa "hạnh phúc-khổ đau", chứ thực ra không còn từ "hạnh phúc" theo nghĩa đời thường nữa. Hạnh phúc đời thường là khi được, đau khổ đời thường là khi mất, còn cái hạnh phúc vĩnh viễn này là khi tâm không còn vướng mắc vào được mất).
Còn lại vấn đề là làm sao dứt bỏ được ý niệm hoan hỉ hay hạnh phúc đời thường trong tâm, đó là những phương pháp đưa cái "nhị nguyện" trở về "bất nhị" tức “tánh không hai”, hay đưa "tâm phân biệt" trở về "tâm vô phân biệt", mà phương pháp do Phật dạy ta gọi là Phật pháp.
Đây là những lời đức Phật, nói về tánh không hai:
Thiện căn có hai: Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tánh thì chẳng phải thường, chẳng phải vô thường cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh
Con người từ thuở ban sơ cái tâm giống như tâm trẻ thơ, chưa hề biết Ác là gì do đó cũng không có ý niệm Thiện. Đó là "tánh không hai" vốn có sẵn "chẳng phải thiện, chẳng phải ác", đó cũng là Phật tánh. Ngày nay chúng ta biết cái Ác nên có cái Thiện, đó là "nhị nguyên".
Lời lục tổ Huệ Năng:
Ðừng nói có sáng , có tối . Ðừng hiểu rằng tu theo Ðạo là lấy Sáng trừ Tối , lấy Bồ Ðề phá Phiền Não , là vì phiền não tức bồ đề , chẳng khác nhau cũng chẳng phải hai . Nếu lấy trí huệ phá phiền não tức là chấp có hai của hàng Thanh Văn Duyên Giác . Hàng trí cao không thể làm như vậy . Ðối với sáng và tối, kẻ phàm thấy có hai , hàng Ðại Thừa thấy "bất nhị" (không có hai). Tánh "bất nhị" là thực tánh chân như . Thực tánh nầy bình đẳng ở muôn vật , bất cứ ở đâu, ở phàm phu không bớt , ở hiền thánh không thêm , ở phiền não không loạn, ở thiền định không lắng . Cái thấy "bất nhị" tuyệt đối ấy chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng đi, chẳng đến, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài , chẳng ở giữa, chẳng sinh, chẳng diệt , chẳng động , thường trụ chẳng dời . Ðó là Ðạo .
"Đừng hiểu rằng tu theo Đạo là lấy Bồ Đề phá Phiền Não, là vì phiền não tức bồ đề, chẳng khác nhau cũng chẳng phải hai" : Khi ta còn ý niệm lấy Bồ Đề phá Phiền Não, tức là tâm ta còn mang hai ý niệm bồ đề - phiền não, là nhị nguyên, vì bị phiền não ta mới nghĩ tới bồ đề và tìm bồ đề để phá phiền não, cũng như tìm "hoan hỉ" để phá "sầu muộn" vĩnh viễn, là điều không thể được. Con đường duy nhất là xóa bỏ ranh giới giữa bồ đề và phiền não, trở về với tâm vô phân biệt, không còn phân hai nữa (bất nhị), bồ đề hòa chung với phiền não làm một, không còn bồ đề mà cũng chẳng còn phiền não, lúc này bồ đề tức phiền não, chẳng khác nhau cũng chẳng phải hai.
Cũng nói về tánh không hai, đây là lời chúa Jesus:
Họ nói với Ngài: Vậy khi trở thành trẻ nhỏ, chúng con vào Nước Trời ư?Đức Giêsu nói với họ: Khi các ngươi coi hai là một, và khi các ngươi coi nội giới như ngoại giới và ngoại giới như nội giới, và điều trên cao như diều dưới thấp, và khi các ngươi coi, đàn ông với đàn bà, chỉ là một thứ đến mức đàn ông chẳng phải đàn ông, đàn bà chẳng phải đàn bà, khi các ngươi làm hai mắt thay cho một mắt, một tay thay cho một tay, và một chân thay cho một chân, một hình ảnh thay cho một hình ảnh, bấy giờ các ngươi sẽ vào Nước Trời.(P.V.F.LEvangile selon Thomas, 1959, p. 17-1) (3)
Đức Giêsu nhìn thấy những đứa trẻ còn bú. Ngài nói với các môn đệ: Những trẻ bú này giống như những người bước vào Nước Trời.
Như vậy muốn được tánh giác tức Phật tánh thì phải loại bỏ tâm nhị nguyên để trở về tâm bất nhị. Cái tâm nhị nguyên đầu tiên là phân biệt Ta-Người phải được loại bỏ để trở thành tâm không phân biệt. Đó là thấy Niết Bàn cũng là thấy Nước Trời vậy.
Để tóm tắt, người viết… chế ra một ví dụ như thế này, để cụ thể ý muốn nói: Bạn là một doanh nhân. Bạn “hạnh phúc” khi thắng được 1 triệu (+1 triệu). Nhưng nếu mất 1 triệu (─ 1 triệu) thì bạn cảm thấy “đau khổ”. Đó là hạnh phúc và đau khổ đời thường, vì còn mang tâm phân biệt (vui/buồn khi được/mất)
Ta dùng ký hiệu (+) và (-) tựng trưng cho cái hạnh phúc hoặc đau khổ này.
Đứng giữa thắng/thua, được/mất là số 0 (giống như số trung bình cộng của +1 và -1 vậy), là không “được” không “mất”, là “không hai”, không thiên về bên nào, là ở giữa hay “trung đạo", thì đó tượng trưng một “hạnh phúc” khác, ví như “hạnh phúc Niết bàn”.
Cho dù được hay mất của cải xảy ra thế nào đi nữa, một người mà cái tâm đã loại bỏ vướng mắc, xao động do “được/mất” là người mang "tâm bất nhị" và có cái “hạnh phúc Niết bàn” ấy. Cùng dùng từ “hạnh phúc” để diễn tả, nhưng ý nghĩa thì khác hẳn nhau. Chữ “hạnh phúc” trong “hạnh phúc Niết Bàn” là ở con người không bận tâm được/mất (không để được/mất khuấy động tâm can mình), còn chữ "hạnh phúc" đời thường là do "được" trong cặp nhị nguyên "được/mất".
Nói thế không có nghĩa là muốn được “hạnh phúc Niết bàn” là ta bỏ... chuyện kinh doanh làm ăn, hay không cần sinh lợi gì cả… mà ta vẫn dùng trí óc minh mẫn khéo léo và nỗ lực trong công việc làm, nhưng không để “được/ mất” khuấy động nội tâm mình. Công việc làm không mang tính chất gian xảo, bóc lột vì ta làm không phải chỉ cho TA mà có mục đích tối hậu là góp phần đem lại hạnh phúc cho mọi NGƯỜI theo tinh thần “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”, là vị tha hay vô ngã, là không còn phân biệt Ta/Người, cũng là TÂM BẤT NHỊ. Đem được hạnh phúc cho Người cũng chính là tạo được "hạnh phúc Niết bàn" cho Ta vậy.
Thế nhưng, khi còn mang tâm phàm phu nhị nguyên, đã từng thấy ánh sáng chói lọi huy hoàng đầy hấp dẫn của hạnh phúc đời thường, cho dù bên cạnh có thể là... bóng tối ảm đạm của đau khổ, ta cũng khó mà tưởng tượng ra nổi cái "hạnh phúc" của ánh đèn... le lói, leo lét không tối cũng chẳng sáng, mà ta gọi là "bất nhị". Thế cho nên ước vọng của các bậc... phàm phu chúng ta vẫn là:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
(Xuân Diệu)
Chỉ "một phút huy hoàng" đời thường (rồi chợt tắt) như thế mà nó có ma lực lôi cuốn như vậy, thì hẳn là đức Phật và các vị Bồ-tát phải vất vả lắm trong việc thuyết phục các bậc phàm phu này theo con đường trung đạo hay tìm lại tâm bất nhị.
Thực ra, theo đức Phật khi trở lại tâm bất nhị không phải là "không vó vui", mà là có cái "vui Đại Niết bàn" hoàn toàn khác với cái vui phàm phu.
"Thế nào là Niết Bàn ?
Như người đói đặng chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bịnh được lành thời gọi là an vui. Như người kinh sợ đặng chỗ nương dựa thời được an vui. Như người nghèo cùng đặng châu báu thời được an vui. Như người quán xương trắng chẳng sanh lòng tham dục thời được an vui. Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Đại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đối." (Kinh Đại Niết Bàn)
Những sự vui trên là do "được", đói được ăn, nghèo được châu báu.... Nhưng có được rồi sẽ có mất, mất thì lại khổ, cũng có khi được lại muốn... được hơn nữa, chẳng thể thỏa mãn, và vì không được hơn lại cũng ưu phiền, bởi vậy những niềm vui ấy có tính tương đối. Còn cái vui của người giải thoát là không vướng mắc vào được mất nữa, đó mới chính là niềm vui Niết bàn chân thực, gọi là Đại Niết Bàn. Không vướng vào được/mất đó chính là "tâm bất nhị".
Biết "tâm bất nhị" là một chuyện, nhưng chứng được "tâm bất nhị" lại là một chuyện hoàn toàn khác, rất là khó khăn vì phải chiến đấu với chính mình. Ta thường nghe nói có tu mới có chứng là vậy. Và có lẽ chỉ có người thực chứng "tâm bất nhị" mới nhìn ra giá trị của nó, nhưng khi đã chứng rồi thì đâu có ai còn đặt vấn đề "giá trị hay không giá trị" nữa, cũng như thiền sư Duy Khoang nói "khi không còn có tâm phân biệt bận nghĩ tới ta, người, thì bấy giờ ai hỏi Đạo ở tại đâu?" ./.
DUY ĐỨC
(August-2008)
(1) Kinh Đại Niết Bàn, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh dịch:
http://www.thuvienhoasen.org/kinh-dbnb-22-2.htm
(2) "Niết Bàn vốn không có sự vui, do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết Bàn. Một là vì dứt những sự vui, chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thiệt vuị. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết Bàn không khổ không vui nên Niết Bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết Bàn."
- Niết bàn vốn không có sự vui: -- chữ "vui" này là vui của phàm phu (do hơn/thua, được/mất...)
- do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết Bàn: -- chữ "vui" này là vui Niết bàn (do không được/không mất) . Bốn điều vui này là "thường, lạc, ngã, tịnh" là tính chất của Niết bàn.
- Một là vì dứt những sự vui (cái vui của phàm phu): chỉ có một đường duy nhất là dứt những cái vui phàm phu, mới đạt được niềm vui Niết bàn.
- chẳng dứt sự vui (phàm phu) thời gọi là khổ: -- Còn đeo đuổi niềm vui phàm phu, thì nỗi buồn khổ thế nào cũng tới, ta gọi chung "buồn/vui" bằng chữ "khổ"
- nếu có khổ thì chẳng gọi là thiệt vui: -- nếu còn mang cái khổ (do buồn/vui) thì không có cái vui Niết bàn (thiệt vui).
- vì dứt sự vui nên không có khổ: -- vì bỏ được cái vui phàm phu (không vướng mắc được/mất hơn/thua) nên không có khổ.
- không khổ không vui mới gọi là đại lạc: -- không khổ/không vui (phàm phu) là cái vui lớn của người giác ngộ, vì không vướng mắc được/mất, hơn/thua, ân/oán, thiện/ác....
- Tánh Niết bàn không khổ không vui (phàm phu) nên Niết bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết bàn: -- Thường ta cứ tưởng Niết bàn là nơi thỏa mãn toàn bộ các ước muốn của mình, nên bây giờ dùng chữ Đại Niết Bàn để phân biệt, giống như nói ở ví dụ khác dưới đây, cũng trong kinh Đại Niết Bàn:
"Thế nào là Niết Bàn ?
Như người đói đặng chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bịnh được lành thời gọi là an vui. Như người kinh sợ đặng chỗ nương dựa thời được an vui. Như người nghèo cùng đặng châu báu thời được an vui. Như người quán xương trắng chẳng sanh lòng tham dục thời được an vui. Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Đại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đối."
Một ví dụ khác nói về hai cái vui khác nhau:
"Vui có hai thứ: Vui của phàm phu và vui của chư Phật. Vui của phàm phu là vô thường bại hoại, nên không có thiệt vui. Vui của chư Phật là thường là không biến đổi nên gọi là đại lạc. Lại có ba thứ thọ : Một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Bất khổ bất lạc đây cũng là khổ. Niết Bàn dầu cũng chẳng khổ, chẳng vui nhưng là thật vui, do đây nên gọi là Đại Niết Bàn.”
Cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc đều là cảm thọ của phàm phu, cho nên ở đây nói rõ "bất khổ/bất lạc" phàm phu khác với "không vui/không buồn" của Đại Niết Bàn.
(3) Trích lại trong bài viết trên internet "Ngộ Đạo Là Gì ? " (đoạn Phúc Âm Theo Thánh Thomas).
__
|