Bản Lai Diện Mục
Không nghĩ thiện, không nghĩ ác
Trong kinh sách Phật giáo có ghi câu chuyện giữa lục tổ Huệ Năng và thượng tọa Huệ  Minh:  Thượng toạ  Huệ  Minh đuổi theo lục tổ  Huệ  Năng với ý  định dành lại y bát mà  lục tổ  đã  được ngũ tổ Hoằng Nhẫn trao cho. Nhưng ý của thượng tọa Huệ  Minh thay đổi, khi ông  hỏi pháp, và  được lục tổ Huệ Năng trả lời:
"- Nhà ngươi đã vì pháp mà đến, thì hãy dẹp bỏ các duyên chớ sanh một niệm, ta sẽ vì nhà ngươi mà nói rõ trong giây lát. Ngài bảo tiếp:- Không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh thượng tọa? Ngay câu nói này Huệ Minh đại ngộ."
Ta thử tìm xem thượng tọa Huệ Minh đại ngộ cái gì, và như thế nào ? Điểm then chốt ở đây hẳn là vấn đề THIỆN và ÁC, đúng hơn là không THIỆN không ÁC, hay nói rộng hơn là "tánh không hai" không THIỆN cũng không ÁC, vì ta đã từng nghe "tánh không hai là Phật tánh".
Cái Ác sinh ra do tham-sân-si, và tham-sân-si sinh ra bởi duy ngã độc tôn hay  tâm phân biệt nhân ngã , theo liên hệ nhân quả như sau:
Tâm Phân Biệt (nhị nguyên)
(Phân biệt Nhân-Ngã)
(Duy Ngã Độc Tôn)
Tham, sân , kiêu mạn, ganh tị
Tranh giành, xung đột, thủ đoạn
được/mất, hơn/thua, thắng/bại, thin/ ác (nhị nguyên)
vui/buồn, thương/ghét, ân/oán, giàu/nghèo, thân/sơ, khinh trọng … (nhị nguyên)

Nơi tâm con người đầu tiên (như ông Adam), cũng giống như tâm đứa trẻ thơ, vốn không có THIỆN hay ÁC (chỉ sau khi ăn trái cây biết phân biệt thiện ác, ông Adam mới biết phân biệt thiện và ác…, là một cách diễn giải trong Kinh Thánh cựu ước). Ta cứ tưởng tượng một cách đơn giản, trước khi có bà Eve, ông Adam đâu có va chạm với ai mà vướng vào cái ÁC.
Nay, con người ai cũng có khuynh hướng cho rằng, hay muốn rằng TA hơn NGƯỜI khác, TA cần bảo vệ cái TA trước NGƯỜI khác, nên tranh giành, xung đột, và từ đó mới sinh cái ÁC. Có ý niệm ÁC thì mới có ý niệm THIỆN, và hình thành tâm phân biệt THIỆN/ÁC, một cặp “nhị nguyên” đối đãi.
Cái tâm ban đầu ấy gọi là “bản tâm”. Và như vậy cái “bản tâm” ấy vốn không có THIỆN không có ÁC (cũng không phân biệt Ta/Người,  không được/mất, không hơn/thua, không thiện/ác, không thương/ghét...). Tính chất của “bản tâm” là trống không, tĩnh lặng, thanh tịnh.
Cùng với Thiện/ác, các cặp phân biệt nhị nguyên khác cũng hình thành theo, đó là được/mất, hơn/thua, thắng/bại và tiếp theo là vui/buồn, yêu/ghét, ân/oán, giàu/nghèo, thân/sơ, khinh/trọng… làm mất đi cái tính tĩnh lặng thanh tịnh, trống vắng của bản tâm. Từ đây con người vướng mắc đối phó với những tình cảm nhị nguyên ấy trong suốt đời sống của mình: Vì phân biệt ta/người, yêu/ghét, giàu/nghèo, thân/sơ, sang/hèn ... nên con người có những thái độ cư xử, đối phó khác nhau với người khác, với mỗi hoàn cảnh, theo hướng có lợi cho mình… hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng năm…. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói nhất nhất đều qua sự uốn nắn thiên lệch của tâm "nhị nguyên", dần dần ta quên mất cái “bản tâm” của ta thời xưa, như bị rêu phong, bụi bậm, mây mờ phủ kín... giống như hình ảnh nụ bông sen bị che phủ bởi bùn ao vậy.  
(Có thể bạn không có những thái độ cư xử như ở vài ví dụ dưới đây, nhưng trong xã hội con người, xưa cũng như nay, chắc chúng ta không lạ gì với những tình cảnh, những màn kịch sau đây:
 
■ Một ông đã có gia đình, nhưng lại đang vướng vào một mối tình đầy đam mê khác, khi gặp người yêu mới, vẻ mặt bạn hớn hở, ân cần, vui tươi, ăn nói dịu dàng êm ái lịch sự. Về nhà gặp người cũ, thái độ ông lại khác hẳn, cau có bẳn gắt , lời nói cọc cằn; cũng có thể ông ân cần trong sự che dấu, dối trá: ông ta đã đeo lên mặt mình 2 cái mặt nạ khác nhau trong hai cách đối xử, mỗi mặt nạ tương trưng cho mỗi thái độ cho mỗi đối tượng, sinh ra do phân biệt yêu-ghét, mới-cũ, đẹp-xấu...
■ Buổi sáng, bà âu yếm ân cần lo cho con ruột của mình đi học, nhưng khi quay qua đứa con riêng của chồng với người tình địch cũ, thì bà thờ ơ hay hằn học, (cũng có thể bà âu yếm bề ngoài, nhưng trong lòng dằn vặt tức tối) : lại những cái mặt nạ khác nhau, sinh ra do thương-ghét, sân hận.
■ Gặp một người có danh vọng hay giàu có, ông niềm nở chào hỏi, nhưng khi gặp người ăn mày đang lượm rác, thì lạnh lùng chẳng một lời chào hỏi: lại hai cái mặt nạ khác nhau nữa khoác lên, sinh ra do phân biệt giàu-nghèo, sang-hèn...
■ Hai người bạn cùng làm chung một công việc tại một công ty kia. Cuối năm, một người được khen thưởng nhiều hơn người kia. Thế là có lòng ghen tức nổi dậy, mà đáng lý ra người kia phải vui mừng khi thấy bạn mình được thành đạt.
■ Buổi chiều, bà được người bạn mời dự tiệc mừng đứa con thi đậu. Bà nói cười góp vui, nhưng sao trong lòng bà thấy buồn, vì người con ấy không phải là con bà, vì con bà thi rớt : bà che dấu nỗi buồn trong cái vui giả tạo. Giá con bà đậu thì mới thực sự làm bà vui... lại những mặt nạ khác nhau phủ lên bà, do phân biệt ta-người, của ta của người,… Đúng lý ra, theo đúng chữ “hỷ” trong đạo Phật thì bà phải “vui với sự thành đạt và hạnh phúc của người khác” (trong Kitô giáo là “vui với người vui”), nhưng bà lại buồn vì ganh tị.
■ Bạn thành công? Bạn được khen ? - bạn vui tươi hỉ hả, kiêu hãnh tự hào : lại những mặt nạ mới khoác lên mặt bạn. Bạn thất bại ? bị chê bai ? - bạn buồn rầu uất hận : lại những mặt nạ khác… bởi hơn thua, khen che..
Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi tháng năm... trong cuộc sống gia đình, tại sở làm, trong kinh doanh, ngoài đường phố, trong xã hội... ta luôn bận rộn với những mặt nạ khác nhau như thế, nên ta quên mất cái bộ mặt thực sự vốn có của ta. Những cái mặt nạ ấy tạo ra bởi tâm nhị nguyên đối đãi yêu/ghét, giàu/nghèo, ân/oán... tuy vô hình với thân xác, nhưng chúng rất nhiều, nhiều hình thái, dày đặc, che phủ bản tâm vốn thanh tịnh của ta, làm cho ta thấy mờ mịt không còn nhận ra nó nữa. Đó là những cái màn "vô minh", che lấp cái "bản lai diện mục" hay là Phật tánh của ta.
Nếu bằng cách nào đó, bạn gỡ bỏ được hết những mặt nạ ấy, cái “mặt thật xưa nay” lộ ra, giống như hình ảnh bông sen vươn lên khỏi bùn nhơ vậy. Đó hẳn là ý nghĩa của bông sen trong đạo Phật, (đó là “hoa khai kiến Phật”.)
“Bản Lai Diện Mục” hay “mặt thật xưa nay” là một cách nói khác của “bản tâm”, bởi vì hướng đi của tôn giáo là tu sửa TÂM con người chứ không phải thân xác (1)  , nên nói về “mặt thật” nghĩa là nói về “bản tâm”. Như vậy “mặt thật xưa nay” tượng trưng cho “bản tâm” vốn có từ xưa,và nay vẫn còn đấy, nhưng bị che lấp bởi vô lượng phiền não. “Bản tâm” vốn không có ÁC và cũng không có THIỆN, nên “bản lai diện mục” cũng vậy. Đó chính là ý lục tổ Huệ Năng muốn nói với thượng tọa Huệ Minh, và thượng tọa đã tiếp nhận được và “đại ngộ”.
Bản tâm = bản lai diện mục = tâm “không thiện không ác”
Mặt khác “tâm không thiện không ác” cũng chính là “tánh không hai” hay “tâm bất nhị”, và theo lời đức Phật, tánh không hai chính là Phật tánh, như ghi trong câu kinh quen thuộc sau đây:
Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tánh thì chẳng phải thường, chẳng phải vô thường cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh
Phật  tánh là tánh (tâm) đã giác ngộ, mà giác ngộ là Niết bàn. Vậy :
Bản tâm = bản lai diện mục = tâm “không thiện không ác” = tánh không hai = Niết bàn
“Đại ngộ” là tìm lại được cái “bản lai diện mục” của mình, là chứng Niết bàn. Dứt bỏ được những phiền não do tâm nhị nguyên hơn/thua, thắng/bại, buồn/vui, ân/oán, thiện/ác… thì cái “bản lai diện mục” lộ ra, giống như hình ảnh bông sen nở vươn lên khỏi bùn ao vậy.
Chuyện đại ngộ của thượng tọa Huệ Minh xảy ra trong một thoáng chốc, chắc hẳn do ông đã tu tập khá lâu, chỉ còn ít vướng mắc, và nhờ duyên lành gặp lục tổ đúng lúc nên đại ngộ. Nhưng đối với người thường, mà đức Phật hay dùng chữ “phàm phu”, thì hẳn là khó khăn. Cuộc hành trình sửa tâm, là phải đi ngược dòng trở lại: từ tâm nhị nguyên trở về với tâm bất nhị, hay từ tâm phân biệt trở về với tâm vô phân biệt  ("tâm phân biệt" = "tâm nhị nguyên", và “tâm vô phân biệt” = "tâm bất nhị"), và theo đức Phật  là phải tận diệt tham sân si.
Niết Bàn(tâm bất nhị)
(Bản Lai Diện Mục)
Duy Ngã Độc Tôn(nhị nguyên)
(Tâm Phân Biệt Nhân-Ngã)
Tham Sân Si
Tranh giành, xung đột, thủ đoạn
được/mất, hơn/thua, thắng/bại, thin/ác(nhị nguyên)
vui/buồn, thương/ghét, ân/oán, giàu/nghèo, thân/sơ, khinh trọng(nhị nguyên)

 
Này hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết Bàn.
…………….
"Đồng nghĩa với Niết bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận  các lậu hoặc."
 
─ Bỏ được tham-sân-si thì không còn tranh giành, xung đột nên không còn được/mất, hơn/thua, do đó không buồn/vui, thương/ghét, ân/oán, thiện/ác … là những phiền não quấy phá tâm can con người. 
 
─ Bỏ được tham-sân-si là trở về với "bản lai diện mục" hay "tánh không hai", đó cũng "bản tâm" không phân biệt Ta/Người, tức là không yêu cái TA hơn NGƯỜI, mà ngược lại “yêu NGƯỜI như bản thân TA”. Đó là tình thương, là tình yêu đối với tha nhân, là từ bi hỷ xả, là đích đến của người tu theo Phật ./.
 
Duy Đức
(Nov-2008)
______________
 
Ghi Chú:
 
(1) Theo lời đức Phật thì đường ta đi  là tìm cách thoát khổ, không cần bận tâm về khởi thủy cái thân xác của mình. (Trích bài viết của Hòa thượng K.Sri Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch)

"Một hôm một người tên Malunkyaputta tới gần Đức Bổn Sư và yêu cầu Ngài giảng về nguồn gốc vũ trụ . Anh ta lại còn dọa rằng sẽ không còn là tín đồ của Ngài nữa nếu câu trả lời của Đức Phật không thỏa đáng với anh ta. Đức Phật bình tĩnh bẻ lại anh ta việc Malunkyaputta theo Ngài hay không theo Ngài chẳng gây hậu quả gì cho Ngài, vì Chân Lý chẳng cần ai phải hỗ trợ cả. Rồi Đức Phật nói Ngài không muốn bàn thảo về nguồn gốc của Vũ Trụ. Với Ngài, muốn đạt kiến thức về những vấn đề như vậy chỉ là sự phí phạm thì giờ vì nhiệm vụ của con người là làm sao tự giải thoát được ngay ở hiện tại, không phải ở quá khứ hoặc ở tương lai. Tượng trưng việc này, Đấng Đại Giác lấy thí dụ một người bị thương vì mữi tên độc. Con người thiểu trí này từ chối không cho rút mữi tên ra cho đến khi nào y biết tất cả những gì về người bắn. Kẻ bị thương này đã chết trong khi các người phụ giúp y lo tìm kiếm những chi tiết không cần thiết. Giống như vậy, nhiệm vụ của chúng ta ngay bây giờ là đạt Niết Bàn, chẳng cần bận tâm gì về khởi thủy của mình."
 
 
Home                       Top
___
 
 


This website is powered by TipTopWebsite.com