THIN và ÁC
−−−
Thiện và Ác,vấn đề được nói tới khá nhiều trong xã hội con người. Và trong các tôn giáo, thiện ác còn được đặt nặng hơn, vì hầu hết mọi hoạt động tôn giáo đều nhằm hướng dẫn con người phải biết phân biệt minh bạch thiện ác để làm lành tránh ác trên con đường tìm hạnh phúc. Thế nhưng, cũng trong kinh sách các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Thiên Chúa giáo, lại cũng nói “không phân biệt thiện ác” như là một điều cần thiết để tới cái đích cuối cùng. Xin lược ghi sau đây:
─ Lại xin trở lại với kinh thánh cựu ước Thiên Chúa giáo, sách Sáng Thế Ký: Ông Adam và bà Eve đang được sống trong vườn Eden, hay địa đàng, nhưng sau khi “biết phân biệt thiện ác”, thì lại bị đuổi khỏi vườn địa đàng (1) , để trở thành con người như chúng ta ngày nay, chịu sự chết và đời sống khốn khổ, trong một thế giới thiện ác. Nói một cách khác, ông Adam và bà Eve hay là con người chỉ được ở trong vườn địa đàng nếu… không biết phân biệt thiện và ác (2).
─ Trong kinh sách Phật giáo có nói tới câu chuyện giữa lục tổ Huệ Năng và thượng tọa Huệ Minh. Khi thượng tọa Huệ Minh hỏi pháp, lục tổ Huệ Năng trả lời : “… Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Huệ Minh? Ngay câu nói này thượng tọa Huệ Minh đại ngộ”  Như vậy là thượng tọa Huệ Minh nhận ra: con người chỉ giác ngộ khi trong tâm không còn… mang sự phân biệt thiện và ác. .
 ─ Lời đức Phật: “…Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai.” Phật tánh là tánh không hai (lời đức Phật), Phật tánh cũng là tánh đã giác ngộ, giác ngộ là Niết bàn. Vậy Niết bàn là nơi … chẳng thiện chẳng bất thiện, hoặc không thiện không ác. Đã không có thiện không có ác thì cũng chẳng có phân biệt thiện, ác.
─ Cũng lời lục tổ Huệ Năng (Pháp Bảo Đàn Kinh): “…Điều lành (thiện) điều dữ (ác) tuy là khác nhau, chớ cái bản tánh không hai. Cái tánh không hai gọi là Thật tánh. Trong cái Thật tánh chẳng nhiễm điều lành điều dữ, ấy gọi là viên mãn báo thân Phật”.
....."người học đạo thì phải bỏ hết các niệm thiện, niệm ác. Cái tánh không hai ấy gọi là Thật tánh. Do nơi Thật tánh ấy mà lập ra tất cả giáo môn.Vậy nghe nói pháp rồi thì phải thấy tự tánh"
Thật tánh cũng là Phật tánh, là Niết bàn, vốn không thiện không ác.
─ Vương Dương Minh, một nhà chính trị kiêm triết học đời nhà Minh bên Trung Quốc thì cho rằng cái bản thể của tâm con người vốn không thiện không ác, khi nói:
“Không thiện không ác là cái thể của tâm.
Có thiện có ác là cái động của ý.
Biết thiện biết ác là lương tri.
Làm thiện bỏ ác là cách vật.”
 
─ Lời đức Phật trong kinh Pháp cú:
Ai siêu việt thiện ác,
Sống đức hạnh tuyệt vời,
thấu triệt được lẽ đời,
Là tì kheo đích thực.”

Có vượt qua được cả thiện cả ác, mới đích thực được là một tì kheo. Để có thể tới được cái đích là Niết bàn, thì ít nhất cũng phải là một tì kheo đích thực.

─ Mạnh tử thì cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản thiện” . Cũng cùng ở Trung Quốc, Tuân tử lại có quan niệm “Nhân chi sơ tính bản ác”, nên cần phải đặt ra luật lệ để kiềm chế cái ác.
 
Sống trong xã hội, con người phải biết phân biệt phân minh Thiện và Ác, để làm thiện diệt ác,  mới đúng đạo lý làm người. Nhưng sao “không phân biệt thiện ác” lại cũng được coi là cần thiết để được tới đích cuối cùng là Thiên đàng hay Niết bàn? Có gì mâu thuẫn, có gì nghịch lý chăng?
 
1.- Vườn Eden : không phân biệt thiện ác.
 
Trở lại với câu chuyện Sáng Thế Ký, câu chuyện về hai con người đầu tiên là ông Adam và bà Eve trong sách Sáng Thế Ký. Đây là một câu chuyện huyền thoại, tác giả viết để gởi cái triết lý của mình trong đó. Hai ông bà Adam và Eva khởi đầu vốn đang ở trong vườn địa đàng chưa hề biết ác, nên cũng không có ý niệm gì về thiện, cho nên cũng không biết phân biệt thiện ác là gì. Nhưng ngay sau khi ăn “trái cây biết phân biệt thiện ác” (cũng mang tính cách tượng trưng), nghĩa là khởi đầu nhận biết phân biệt thiện ác thì bị “đuổi” ra khỏi vườn địa đàng, vì khi đã biết "phân biệt thiện/ác" tức là đã đã biết hay đã có cái ÁC trong tâm rồi. Như vậy, ta dễ dàng nhận ra ý của tác giả Sáng Thế Ký là vườn địa đàng chỉ chứa chấp những con người không mang “tâm phân biệt thiện ác”, hay nói một cách khác cái tâm đầu tiên của con người (cái tâm của Adam trước khi ăn trái cấm), tức là “bản tâm”, vốn không có ác, nên không có "phân biệt thiện/ác".

Ý của Vương Dương Minh cũng giống như ý tác giả Sáng Thế Ký ở điểm này, là: “Không thiện, không ác là cái thể của tâm” (bản thể của tâm vốn không có thiện cũng không có ác), lúc đó ngay cả từ ngữ “thiện” và  “ác” cũng chẳng có, ta chỉ tạm mượn chữ bây giờ để diễn tả, và đức Phật thường dùng chữ “thị danh”, hay “giả danh” để nói trong những trường hợp như thế để cho chúng ta hiểu. Không có thiện không có ác thì cũng  không có sự phân biệt thiện ác.

Thế rồi, một biến cố, một biến động nào đó làm cho cho con người phát khởi sự “phân biệt thiện ác”: “Có thiện, có ác là cái động của ý” . Cái biến động đó được diễn tả trong Sáng Thế Ký là hành động của ông Adam và bà Eve, bị cám dỗ lôi cuốn, đã ăn trái cấm để “biết phân biệt thiện ác”, bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi vườn địa đàng, đi vào thế giới thiện-ác, chuốc lấy khổ ải trong cuộc sống và lãnh nhận cái chết. .
 
Nếu bạn không thích vướng mắc vào ý niệm Thiên Chúa thì có thể hiểu một cách đơn giản hơn, là khi khởi tâm phân biệt thiện ác (mà khởi đầu là tâm phân biệt  nhân-ngã), chính con người, tượng trưng bởi ông Adam, đã tự bước vào một thế giới có Ác có Thiện, như ta đang sống ngày nay, đó là một tương quan nhân-qủa:

Khởi tâm phân biệt nhân-ngã (nhân) → bước vào thế giới thiện-ác (quả)

 2.- Bản Lai Diện Mục: Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.

Khi thượng tọa Huệ Minh hỏi pháp, lục tổ Huệ Năng trả lời: "- Nhà ngươi đã vì pháp mà đến, thì hãy dẹp bỏ các duyên chớ sanh một niệm, ta sẽ vì nhà ngươi mà nói rõ trong giây lát. Ngài bảo tiếp:- Không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay lúc đó cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh thượng tọa? Ngay câu nói này Huệ Minh đại ngộ."
Ta thử tìm xem thượng tọa Huệ Minh đại ngộ cái gì, và như thế nào ?
Cái Ác sinh ra do tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị, và tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị sinh ra bởi “duy ngã độc tôn” hay “tâm phân biệt nhân-ngã”. Do đó nếu không mang tâm phân biệt nhân-ngã thì không sinh tham-sân-si, và sẽ không vướng vào cái Ác. Khi không có cái Ác thì không có ý niệm gì về Thiện. Đấy chính là cái tâm gốc lúc ban đầu, trống vắng, thanh tịnh, là cái “bản tâm” của thượng tọa Huệ Minh, và mọi con ngưòi ai cũng có.
Cái “bản tâm” vốn không phân biệt thiện ác (hay không phân biệt nhân/ngã) ấy, vốn có từ xưa và nay vẫn còn đó, nhưng bị che lấp bởi bao phiền não do tham sân si, kiêu mạn, ganh tị, được mất, hơn thua, vui buồn, ân oán... chính là cái mà lục tổ Huệ Năng goị là "mặt thật xưa nay" hay “bản lai diện mục”.
Lời lục tổ Huệ Năng nhắc cho thượng tọa Huệ Minh trở lại với cái tâm vô phân biệt ban đầu, hay là "bản lai diện mục ", vốn không có ý niệm thiện và ác, đó cũng chính là Niết bàn, do đó thượng tọa chợt nhận ra, tức “đại ngộ”.
3.- Không Thiện Không Ác Là Cái Thể Của Tâm.
     Có Thiện Có Ác Là Cái Động Của Ý.
 
Khi còn mang cái tâm “không thiện không ác”, cũng chính là cái “bản thể của tâm”, con người đang trong thời kỳ ở vườn địa đàng ban đầu, là lúc cái “bản lai diện mục” chưa bị che lấp. Ta có thể tạm dùng chữ “hạnh phúc” của của đời thường để diễn tả trạng thái đó (vì  không có từ ngữ khác, nên cũng phải dùng chữ "hạnh phúc"), cái "hạnh phúc" này đặt trên căn bản “trung đạo” (không thiện mà cũng không ác), “tâm bất nhị” (không thiện cũng không ác), đó là cái “hạnh phúc Niết bàn”.

Cái “động của ý” là “khởi tâm phân biệt”, phân chia cái tâm của con người ra hai thế giới, hay là hai bờ bến, cách biệt:

■ một bên là thế giới vốn có (bản tâm), vốn không có thiện-ác. Vì không có tâm ác, không có  tội ác nên không có đau khổ; đó là vườn Ê- đen, hay cũng là bản lai diện mục, hay Niết bàn, đấy cũng là “bờ giác”, là “bỉ ngạn”, là bờ bên kia.
 
■ còn một bên bờ khác, là thế gìới có thiện có ác, vì có ÁC mới có THIỆN, đó là nhị nguyên Thện/ác, là thế giới ta bà hay là “khổ hải mang mang”, nơi ta đang sống: ở đó cái bản lai diện mục (không thiện không ác) bị che lấp nên gọi là “bến mê”. Từ “bến mê“ này nhìn qua bên kia, con người lại muốn quay trở lại bến bờ cũ, nay gọi là “bờ giác”, nơi bình an không thiện-ác, chính là vườn Ê-đen, bản lai diện mục, hay Niết bàn. Đó là ý nghĩa câu văn quen thuộc trong Phật giáo “khổ hải mang mang, hồi đâu thị ngạn” và “đáo bỉ ngạn”.
 
 
Bờ Giác  Bến Mê 
 
Hai thế giới, hai bến bờ ấy, bị phân cách bởi một dòng sông hiểm trở là “tâm phân biệt nhân/ngã” hay “duy ngã độc tôn” hay lòng vị kỷ. Chính tâm phân biệt nhân/ngã đưa tới cái ác và cặp nhị nguyên thiện/ác, che mờ cái "bản lai diện mục (không thiện/không ác). Chỉ có vượt qua chướng ngại đó để trở thành 'tâm không phân biệt nhân/ngã" nữa thì mới có cơ may trở về được bờ giác. Tâm "không phân biệt nhân/ngã" là không yêu TA hơn NGƯỜI, hay "yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA", hay "thương người như thể thương thân" (Nguyễn Trãi), và nói một cách phổ thông hơn là tâm không vị kỷ mà là sống vị tha, bác ái.
 
Biết Thiện Biết Ác Là Lương Tri,
Làm Thiện Bỏ Ác Là Cách Vật.
                      
Trong thế gìới thiện-ác, cái ác làm cho con người đau khổ, hành động thiện làm cho con người bớt khổ. Đó là lý do khi đang ở trong thế giới thiện-ác, con người có lương tri phải nhận biết phân minh thiện và ác, để làm thiện bỏ ác, cho tới khi không còn cái ác nữa.
 
Khi không còn Ác thì  ý niệm Thiện cũng không còn, là con người trở về cái bản tâm “không thiện không ác”, đó là vườn Ê- đen, bản lai diện mục hay Niết Bàn, là bản tâm thanh tịnh. Đây là tánh không hai (tâm bất nhị) trong câu nói của đức Phật: “…Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai.”, hay lời lục tổ Huệ Năng: “… trong cái Thật Tánh chẳng nhiễm điều lành điều dữ. Phật tánh cũng là Thật tánh, là tánh giác ngộ, là tánh không hai, là tâm không phân biệt, là Niết bàn. Theo đức Phật, "đồng nghĩa với Niết bàn là nhiếp phục tham, sân, si". Bỏ lòng vị kỷ hay tâm phân biệt nhân/ngã là bỏ lòng tham lam, sân hận, chính là đường tới Niết bàn.
 
4.- Nhân Chi Sơ Tính Bản Thiện.

Khi nhìn một đứa trẻ thơ (có thể coi cái TÂM trẻ thơ tượng trưng cho cái TÂM của con người ban đầu), chúng ta thấy tâm nó hiền lành, ta nghĩ tính THIỆN là bản tính của con người, và chữ THIỆN mang ý nghĩa Thiện trong cặp nhị nguyên Thiện/Ác, nghĩa là thấy Thiện vì đã thấy Ác. Nhưng ở đứa trẻ thơ lại cũng chưa có Ác, nên cũng chưa có ý niệm Thiện, cho nên chữ THIỆN ghép vào tâm trẻ thơ chính là “tánh không Thiện không Ác” hay tánh không hai mà đức Phật hay nói, người ta đã “mượn” chữ Thiện (trong Thiện/Ác) để nói tới cái tâm “không Thiện không Ác” của trẻ thơ. Tánh không hai là Phật tánh.
 
Tới đây cũng xin nhắc lại lời đức Jesus, khi ngài nói về trẻ thơ:  “Nếu anh em không quay lại mà trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời . Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.”
 
hay “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng.”

Đức Jesus muốn chúng ta trở về với cái tâm THIỆN của trẻ thơ, tâm THIỆN ấy chính là cái tâm vốn "không thiện không ác" hay "không phân biệt thiện ác", cũng là cái tâm ban đầu của Adam lúc chưa ăn trái cấm. Đó là vườn Ê-đen, thiên đường đánh mất : Ê-đen hay thiên đàng là tại tâm con người không mang tâm phân biệt thiện/ác hay tâm phân biệt Ta/Người.
 
5.- Tóm lại :

■ Cái bản tâm không thiện ác ban đầu của Adam, cũng là cái bản lai diện mục của con người, là cái tâm thiên phú, trong sạch như tờ giấy trắng tinh, tuy qúi giá nhưng Adam không biết nó là quí giá, vì chưa trải nghiệm qua khổ đau, do đó sắc trắng nhiễm bẩn dễ dàng, để bước sang thế giới của thiện/ác với khổ ải và phiền muộn.
 
■ Khi đang ở trong thế giới thiện/ác, nơi “bể khổ mênh mông”, nhìn lại bờ bên kia, con người mới thấy qúi cái bản tâm thanh tịnh, không thiện không ác, nên muốn quay trở về với với cái sắc trắng ban đầu của bản tâm ấy. Muốn được vậy, con người phải nỗ lực cả trí óc và sức lực, tẩy rửa các vết nhơ, đó là sửa (tu) tâm, để tìm trở về. Gột bỏ được cái Ác thì ý niệm Thiện cũng sẽ biến mất. Đó là trở lại với tánh không (không thiện không ác), với tâm bất nhị (không thiện không ác), với trung đạo (đường giữa thiện và ác, không thiên bên nào), và cũng được gọi là “siêu việt thiện ác”
 
Người siêu việt thiện ác,
Dứt phiền não buộc ràng,
Thanh tịnh sống thênh thang,
Bà La Môn ta gọi. (kinh Pháp cú)
 
■ Có một sự khác biệt khá lơn lao giữa cái tâm ban đầu của Adam (trước khi khởi tâm phân biệt thiện ác), và cái tâm một con người đã giác ngộ khi trở về bến bờ cũ, đó là: khi đã tu sửa trở lại với sắc trắng ban đầu (giác ngộ), thì cái tâm ấy khó có thể nhiễm bẩn để trở lại thế giới thiện ác nữa. Lý do là con người ấy đã biết trân qúi cái giá trị của cái bản tâm, vì đã trải qua kinh nghiệm khổ đau, và đã bỏ bao nhiêu nỗ lực vào đó để trở về. Nỗ lực quan trọng nhất là dùng cái TRÍ để tìm hiểu, nhận ra, tìm phương pháp, và quyết tâm trở về. Đó là ý niệm về chữ Trí huệ Ba-la-mật, hay Bát Nhã Ba-la-mật, là trí tuệ dẫn dắt con người qua bờ bên kia, là “đáo bỉ ngạn”, là qua bờ giác, là "hồi đầu thị ngạn".
 
6.- Thế Nào Là Thiện-Ác Phân Minh?
 
─ Một người mẹ yêu thương đứa con nhỏ của mình, hành động của bà vì tình yêu nên chẳng bao giờ là ác đối với nó cả.
 
─ Khi bạn yêu mến chân thật một người bạn, bạn luôn nghĩ tới việc đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người ấy, tránh cho người ấy những bước đi lầm lạc, những nỗi phiền muộn, buồn khổ. Đấy là tâm ý thiện. Và hành động của bạn với tâm ý thiện vì yêu người, nên là hành động thiện.
 
─ Chàng yêu nàng. Nếu chàng yêu nàng chân thật thì cho dù nàng có… lạc sang cái thuyền khác, chàng cũng thầm mong cho nàng được hạnh phúc với... người kia. Đấy là vì hạnh phúc... của người. Quả là... nghịch lý (lý thông thường), là... không tưởng! nhưng đó là đường đi (đạo), là tâm thiện. Với tâm thiện thì hành động thiện.
 
Nhưng nếu mà chàng lồng lộn lên vì ghen tị, thù hằn, giận dữ thì đấy không phải là... tình yêu chân thật, mà chàng chỉ vì cái TA, chỉ muốn chiếm hữu cho TA mà thôi. Chỉ vì cái TA thì trước hết là rước lấy đau khổ vì “mất” (trong cặp nhị nguyên được/mất), và cũng từ đấy sẽ đưa tới tâm ý ác, lời nói ác , và hành động ác.
 
Một câu nói của nhà văn Magaret Caroline Anderson (1886-1973) rất là súc tích về tình yêu chân thật (real love), như sau:
 
"In real love you want the other person's good. In romantic love you want the other person"

(Trong tình yêu chân thật bạn muốn sự tốt đẹp cho người khác . Trong tình yêu lãng mạn bạn muốn [chiếm đoạt, sở hữu] người khác)
 
─ Nếu với bất cứ người nào (tha nhân) bạn cũng yêu thương chân thật như yêu chính mình, thì mọi hành động của bạn đối với họ đều là vì họ (vị tha), vì hạnh phúc của họ. Đó là những hành động luôn luôn mang tính thiện. Đấy cũng là ý nghĩa chữ “tình yêu” trong câu “Thiên Chúa là tình yêu” trong thánh kinh Thiên Chúa giáo, ... Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối.  
 
Vậy “tình yêu thương chân thật” đối với tha nhân là điều kiện để bạn biết hành động của bạn là thiện. Đó là lý do tại sao chúa Jesus dạy: “hãy yêu thương tha nhân như chính bản thân mình”, và lời thánh Phaolô "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13:10). Yêu thương tha nhân như yêu chính mình cũng có nghĩa là bỏ tâm phân biệt nhân-ngã, là vị tha, là vô ngã vậy.
 
Với đức Phật, trong kinh Kim Cang, ngài nhấn mạnh: một vị bồ tát mà còn mang tâm phân biệt ngã/nhân, ngã/chúng sinh, ngã/thọ giả, thì không phải là bồ tát. Ta vẫn hiểu một vị bồ tát đích thực luôn mang lòng thương yêu (từ bi) với tất cả chúng sinh, đã yêu thương thì không còn làm điều ác với chúng sinh nữa.
 
Sau đây là một số nhận định về thiện ác:
 
▪ Lời đức Phật : "Chúng sanh lấy mười việc làm điều thiện, cũng lấy mười việc làm điều ác. Những gì là mười? Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba.
─ Thân có ba là:  sát, đạo, dâm.
─ Miệng có bốn là: nói hai lưỡi, nói lời ác, nói dối và nói thêu dệt.
─ Ý có ba là: đố kỵ (bài khác nói là :tham lam), sân hận và ngu si.
Mười việc này không thuận với Thánh Ðạo, gọi là Thập Ác Hạnh. Nếu dứt được những việc ấy thì gọi là Thập Thiện Hạnh vậy." 
 
Sát sanh, ăn cắp, tà dâm, nói dối, sân hận… đều là sự ác, xuất phát từ lòng vị kỷ. Vị kỷ là vì chữ TA trên hết chứ không vì NGƯỜI. Như vậy làm, nói, nghĩ điều gì mà chỉ vì lợi ích của TA  thường là mang tới hành động ác, vì lợi ích của NGƯỜI thì mang tới hành động thiện. 
 
▪ Hòa thượng Trung Phong (đời Nguyên, Trung Quốc) định nghĩa chữ Thiện-Ác: “Làm việc có ích cho người là thiện, còn chỉ có lợi cho riêng mình  là ác. Có ích cho người thì dù đánh hay mắng chửi họ cũng gọi là thiện, chỉ có ích cho riêng mình dù tôn kính, lễ phép đối với người cũng kể là ác. Bởi vậy, người làm việc thiện mà có lợi ích cho người là công, chỉ lợi cho mình là tư, công là chân, còn tư là giả.
Lại nữa, làm việc thiện mà phát xuất từ tấm lòng thành là chân thiện, còn hời hợt, chiếu lệ mà làm là giả thiện. Hơn nữa, hành thiện mà không nghĩ tới một sự báo đáp nào cả là chân thiện, trái lại còn hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều tự mình cần khảo sát kĩ lưỡng”. 
 
▪ Lời đức Jesus:“Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta”(Mt 7,12). Hành động như vậy hẳn là thiện.
 
hoặc: “Phúc thay cho ai biết xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa thương xót”. Biết thương xót cũng có nghĩa là từ bi trong đạo Phật. Biết thương xót người thì sẽ hướng tới việc làm thiện. 
 
▪ Khi được hỏi về cách xử thế giữa người với người, đức Khổng tử nói : “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, muốn người đừng làm điều gì cho ta, thì ta cũng đừng làm điều ấy cho họ. Hành động như thế là không ác.
 
Đấy là những hướng dẫn để con người biết thế nào là hành động thiện, ác.
 
Đôi lúc chúng ta cũng phân vân về nhận định thiện-ác trong xã hội con người, và thấy thiện- ác có khi là một cái gì hết sức tương đối, không rõ rệt. Một hành động, có khi đứng ở bên này lằn ranh (thời gian hay không gian) là thiện, mà ở bên kia lại là ác, ví dụ hai người đứng hai bên một chiến tuyến thì cho mình là thiện và bên kia là ác…. Những nhận định như vậy chẳng qua chỉ là từ ý chủ quan khi con người còn dựa vào chữ TA và CỦA TA làm chuẩn để phân định thiện ác, khác hẳn với thánh nhân là những bậc đã bỏ hẳn chữ TA (vô ngã), tức là đã xóa ranh giới Ta-Người, đã xóa bỏ tâm duy ngã độc tôn hay tâm phân biệt nhân-ngã.
 
Khi tâm duy ngã độc tôn hay chấp ngã đã xóa bỏ, là đồng thời cũng loại bỏ được lòng tham sân si, kiêu mạn, ganh tị, là sống vị tha không vị kỷ, là vô ngã, vô ngã là Niết-bàn, là đích cuối cùng…, đó mới là lúc không còn tâm ác và cái ác nữa. Khi chữ Ác không còn thì chữ Thiện cũng biến mất: Đó là tâm “không thiện không ác” hay “siêu việt thiện ác”./.
 
Duy Đức
(Aug-2008)
 
Home                         Top
-----------
Ghi Chú:
(1) Theo giải thích kinh điển thì hai ông bà Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn địa đàng vì không tuân lời hay chối bỏ Thiên Chúa.
Nếu hiểu Thiên Chúa là Tình Yêu , thì theo cách giải thích này cũng có thể hiểu là khi hai ông bà chối bỏ Thiên Chúa cũng là chối bỏ tình yêu. Hai chữ "tình yêu" trong Kitô giáo phải hiểu là "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình". Chối bỏ tình yêu (tha nhân) mà chỉ yêu chính mình là vị kỷ, là nguồn gốc của tham sân si kiêu mạn ganh tị, là nguồn gốc sinh ra cái ÁC. Khi ÁC sinh thì chữ THIỆN cũng sinh theo, thành một cặp phân biệt THIỆN ÁC. Đó là ý nghĩa của "trái cây biết phân biệt thiện ác". 
(2) Hai ông bà Adam và Eva khởi đầu vốn đang ở trong vườn địa đàng chưa hề biết ác, nên cũng không có ý niệm gì về thiện, cho nên cũng không biết phân biệt thiện/ác
Sau khi ăn “trái cây biết phân biệt thiện ác” (mang tính cách tượng trưng), nghĩa là khởi đầu nhận biết phân biệt thiện/ác thì bị “đuổi” ra khỏi vườn địa đàng, vì khi đã biết "phân biệt thiện/ác" tức là đã đã biết hay đã có cái ÁC trong tâm rồi. Cái ác là mầm mống của đau khổ đã xuất hiện.
Như vậy, ta dễ dàng nhận ra ý của tác giả Sáng Thế Ký là vườn địa đàng chỉ chứa chấp những con người không mang “tâm phân biệt thiện ác”, hay nói một cách khác cái tâm đầu tiên của con người (cái tâm của Adam trước khi ăn trái cấm), tức là “bản tâm”, vốn không có ác, nên không có "phân biệt thiện/ác".
___
 

 



This website is powered by TipTopWebsite.com