**The music player will show here on your website**
TORNA A SURRIENTO (Ernesto De Curtis)
(BÊN XƯA - Lời Việt và tiếng đàn của Thanh Trang)
Hồi Đầu Thị Ngạn
---
“Khổ hải mang mang,hồi đầu thị ngạn.”
Đây là câu nói quen thuộc trong kinh sách Phật giáo, một câu nói tuy ngắn nhưng gợi cho ta hình ảnh hay một câu chuyện nào đó của một kẻ lầm đường lạc lối, hối cải nên quay tìm về lại mái nhà xưa, tương tự như thế này:
Có một con người, vốn sống trong một thế giới bình an, không hề vướng mắc gì để phải bận tâm và lo lắng buồn phiền….Thế rồi con người đó vì không biết (vô minh) cái hạnh phúc mình đang có, bị một ma lực nào đó quyến rũ, dụ dỗ, đã rời bỏ quê hương, bỏ mái nhà xưa êm ấm bình an, bỏ bến bờ cũ, dứt áo ra đi. Trên con đường bôn ba, sống trong bao phiền não, quay cuồng vì được mất, thắng thua, giầu nghèo, buồn vui, khổ ải, thiện ác, ân oán, ganh ghét hận thù… Cứ thế ngày càng thêm phiền não như sống trong một “bể khổ”, càng cảm thấy quê hương cũ cách xa mờ mịt, giống như ý hai câu thơ của vua Trần Thái Tông:
“Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật viễn gia hương vạn lý trình!”
(Lang thang làm khách phong trần,
Quê hương ngày một muôn lần cách xa!)
Thế rồi, trong cái “bể khổ mênh mông” ấy, có lúc chợt nhớ ra là xưa kia mình đã từng có một quê hương, một bến bờ cũ, êm đềm, với đời sống bình an hạnh phúc thực sự. Cái hạnh phúc chân thật ấy không do được-mất, thắng-bại, hơn thua, ….Cảm nhận điều đó, “khách phong trần” ấy, quay đầu lại (hồi đầu) để tìm con đường về quê cũ, và nếu với quyết tâm, sẽ thấy lại được bến xưa (thị ngạn). Đó là:
“khổ hải mang mang, hồi đầu thị ngạn”.
(bể khổ mênh mông, quay đầu thấy bến)
Và đó cũng là ý nghĩa của câu nói khác trong kinh sách Phật giáo:
“phản bổn hoàn nguyên” (1)
cái đích cuối cùng là trở về nguồn cội của mình, nghĩa là chúng ta xưa như thế nào thì trở lại như thế đó.
■ Để nói tới cái bến bờ bình an thanh tịnh vốn có ấy của con người,trong kinh Đại Niết Bàn, đây là lời đức Phật:
Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh.
Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che lấp.
■ Còn đối với Thiên Chúa giáo, lại một lần nữa xin trở lại với Sáng Thế Ký, tác giả đưa ra hình ảnh con người đầu tiên là ông Adam và bà Eva, khởi đầu sống trong vườn địa đàng, sung sướng và hạnh phúc. Nhưng hai ông bà không biết là mình đang sung sướng hạnh phúc, vì chưa từng trải qua đau khổ, nên không nghe theo lời Thiên Chúa dặn dò mà lại nghe theo cám dỗ, khởi tâm phân biệt thiện ác, và mở ra một thế giới có cái ác, và phiền não, mà trước đó vốn không có. Đó chính là cái “khổ hải mang mang” nói trên vậy.
Như vậy, vườn Ê- đen chính là cái quê hương cũ, bến bờ xưa, cái “bỉ ngạn”, nơi hạnh phúc êm đềm, thanh tịnh mà ông Adam và con cháu của ông đã bỏ lại để làm khách phong trần lang thang, như anh chàng “cùng tử” ở ví dụ dưới đây.
■Trong kinh sách Phật giáo, có một câu chuyện thí dụ “Cùng tử dụ” (cũng giống như hình thức dụ ngôn trong kinh thánh tân ước): Một anh chàng, từ nhỏ bỏ mái nhà xưa, bỏ cha, trốn đi xứ khác. Bôn ba 50 năm trời … trở thành… một tên nghèo khổ, đói rách, bần cùng: người “cùng tử”. Một lần lang thang tìm miếng cơm manh áo, anh ta trở lại trúng ngôi nhà của người cha, giàu có và sang trọng. Nhưng nghĩ tới thân phận nghèo hèn, anh ta sợ, và lánh đi nơi khác nghèo nàn hơn để kiếm ăn.
Người cha biết và thương xót tìm cách đưa anh ta về, giả như mướn người làm, từng bước giao cho anh ta công việc, mới đầu rất là hèn hạ, tầm thường, sau quan trọng hơn, để anh ta xóa dần cái mặc cảm hạ tiện bất xứng của mình, và cuối cùng công khai với mọi người rằng đấy là con ông và chàng “cùng tử” được hưởng tài sản của ông.
Trong câu chuyện, chàng cùng tử tượng trưng cho con người đang sống trong bể khổ mênh mông này, vốn xưa kia đã từng sống sang giàu hạnh phúc cùng cha ở quê nhà (tượng trưng cho cái bản tâm vốn thanh tịnh, bình an), nhưng vì không biết (vô minh), đã bỏ nhà mà ra đi, để thành một kẻ bần cùng đói rách (bể khổ mênh mông).
(Chuyện dụ ngôn "Người con trai hoang đàng" trong Kinh Thánh tân ước (Lc 15:11-24), cũng tương tự như “cùng tử dụ”.)
Câu chuyện còn mang ý nghĩa sâu sắc khác, nhưng ở đây chỉ muốn nói tới một cái ý là: con người vốn đã từng sống trong thanh tịnh bình an hạnh phúc, tượng trưng bằng “bản tâm thanh tịnh” như đức Phật nói, hay vườn địa đàng trong Kinh Thánh cựu ước, trước khi mang cuộc sống đầy phiền não trong “bể khổ mênh mông” như ngày hôm nay. Và, khuynh hướng của con người là sẽ tìm về cái "bản tâm thanh tịnh" hay vườn địa đàng ấy.
1.- Bể Khổ Mênh Mông.
Sanh (2) là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Đó là những cái khổ chính tạo ra bể khổ mênh mông mà đức Phật đề cập khi thuyết giảng về tứ diệu đế.
Nỗi khổ đau của con người gồm hai phương diện : thân xác và tinh thần (tâm lý). Về thân xác có lẽ chỉ dùng chữ “đau” là đủ, còn về tâm lý mới là “khổ”. Trong những cái khổ đức Phật nêu lên đối với sanh-lão-bệnh-tử, không hẳn là ngài muốn nói tới cái đau thân xác mà là cái khổ tâm lý sinh ra từ đó.
Lời đức Phật: “Cái khổ bị uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng ở địa ngục chưa phải là khổ, cái khổ làm thân trâu ngựa cũng chưa phải là khổ. Si mê không biết lối đi, đó mới là khổ” cho ta thấy một ý niệm là cái đau của thể xác chẳng thấm vào đâu so với cái khổ của tâm hồn.
Và trong Tương Ưng Bộ Kinh:
“…kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.”
…bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.” cũng cho ta thấy có cái khổ (đau) về thân (cảm thọ về thân) và cái khổ tâm lý (cảm thọ về tâm):
─ một người có thể chỉ thấy nỗi đau của thân thể (cảm thọ về thân) nhưng không mang nỗi khổ trong tâm phát sinh từ nỗi đau thân thể.
─ trong khi một người khác cùng chịu cái đau thân thể như thế (cảm thọ về thân), lại vừa thấy khổ trong tâm (cảm thọ về tâm) do cái đau của thân thể sinh ra: đó là nỗi "sầu muộn", để rồi đưa đến hành động "than vãn, khóc lóc, đấm ngực..." như ví dụ trong đoạn kinh nói trên.
■ Có lần ngài Sariputta (Xá Lợi Phất) nói với các đồng đạo: "Này các bạn, Niết bàn thật là hạnh phúc! Niết bàn thật là hạnh phúc!". Nghe như vậy, ngài Udayi liền vặn hỏi: "này bạn Sariputta, làm thế nào có hạnh phúc, nếu không có cảm thọ ?" Ngài Xá lợi Phất đáp: "Không có cảm thọ, đó chính là hạnh phúc."
Hẳn "không có cảm thọ" đây là "không có cảm thọ về tâm", nghĩa là không vướng mắc với hoan hỉ/sầu muộn, yêu/ghét, ân/oán...(do được/mất, hơn/thua...), đấy là cái chân hạnh phúc.
■ Một cô gái bị một vết thương rách một bên má, vết thương làm cô đau. Nhưng cô có tâm hồn bình dị không quan tâm đến bề ngoài, không đua đòi so sánh cùng bè bạn, nghĩa là cô xem nhẹ cái TA của cô, thì vết thương chỉ làm cho cô đau về thể xác. Và cô cũng biết rằng sau một thời gian, cái đau ấy sẽ hết và tuy có để lại vết sẹo, nhưng cô cũng không quan tâm và khổ, vì cô không coi trọng bề ngoài. Cô gái chỉ mang một cảm thọ về thân (cái đau thân thể), nhưng không cảm thọ về tâm (nỗi khổ sinh ra bởi cái đau của thân thể).
Nhưng sự việc lại khác hẳn với một cô khác, vốn coi trọng cái nhan sắc của mình, vì đó là lợi khí trong tình yêu, trong nghề nghiệp của cô ngoài xã hội, sẽ giúp cô “được” nhiều thứ (ít nhất là cô nghĩ như thế). Nỗi đau thể xác thì như nhau (khách quan), nhưng cô bị thêm nỗi khổ dằn vặt (chủ quan), vì cái nhan sắc của cô đã bị phương hại. Đó là cái khổ vì “mất” trong cặp nhị nguyên “được-mất”. Cô vừa mang nỗi đau thân xác, vừa mang nỗi khổ vì mất mát, tiếc nuối, ân hận hay thù oán…, cái khổ chồng lên cái đau, nỗi khổ chồng lên nỗi khổ. Nỗi khổ này đôi khi còn làm tăng thêm cái cảm giác đau đớn của thân xác. Và nỗi khổ ấy có khi dằn vặt cô trong suốt quãng đời còn lại. Cô gái mang cả hai cảm thọ: cảm khổ thọ về thân, đồng thời với cảm khổ thọ về tâm.
Ví dụ này dành cho cái thời chưa có… giải phẫu thẩm mỹ thôi, chứ còn ngày nay chỉ cần đưa tới mỹ viện là xong. Do đó khoa học cũng là một con đường khác làm bớt cả cái đau và nỗi khổ của con người.
■ Đứng trước cái chết sắp tới trước mắt, một vị tu sĩ bình tĩnh đón nhận không mảy may sợ hãi, vì đã nhận ra cái vô thường của đời người, cái chết chỉ là một tiến trình tự nhiên của vạn vật trong đó có con người. Khi sống, ông sống vì mọi người, không dành cho mình một cái gì cho nên ông chẳng có gì để mất, tâm ông không biết nuối tiếc là gì. Chỉ có một điều ông phải đối phó là cái đau của thân xác. Cái đau này ai cũng như ai, cũng chỉ là giai đoạn, nhiều lắm thì nó cũng phải chấm dứt khi cái chết đến. Cái chết thân xác đã chẳng quan trọng gì đối với ông, thì nỗi đau thể xác đó cũng chẳng thấm vào đâu. Ông không mang nỗi khổ do sợ hãi vì mất mát vì nuối tiếc khi đối đầu với cái chết.
Thế nhưng sự việc lại khác hẳn đối với một phàm nhân khác. Cái chết và cái đau thân xác thì ai cũng như ai, nhưng về tâm lý, với cái chết ông bị tổn thương và mất mát nhiều thứ khác nữa, (mà vị tu sĩ nói trên không có), do đó mà ông sợ hãi và đau khổ. Cuộc sống tranh giành tạo cho ông nhiều đối thủ, họ sẽ nhởn nhơ sung sướng trên cái chết của ông, đó là điều làm ông sân hận, nhưng mà ông thì bất lực; bao dự định sinh bởi lòng tham,sân, si của ông đành tan vỡ; của cải của ông tom góp rồi ai hưởng, có đúng như ý ông muốn không; người vợ đẹp của ông sẽ trung thành với ông được bao lâu; rồi cả một bóng tối mịt mờ đáng sợ đằng sau cái chết, và rồi ông sẽ đi về đâu… biết bao nhiêu là mất mát, nuối tiếc lẫn sợ hãi đến với ông, mà ông đành bất lực, nó dằn vặt ông trước phút lâm chung. Đấy là nỗi khổ trong cái “bể khổ mênh mông”.
Những nỗi khổ như thế này đều do con người tự cho cái TA và CỦA TA là đáng tôn qúy hơn NGƯỜI khác. Đó là tâm"duy ngã độc tôn " hay tâm "Phân biệt Ta-Người ". Tham sân si từ đó mà sinh; được mất, vui buồn, ân oán, thiện ác… cũng từ đó, nên khổ cũng từ đó.
"Tâm phân biệt Ta/Người" vốn không hề có nơi tâm ban đầu đơn sơ của con người, tức là bản tâm thanh tịnh. Vì không biết đường về với bản tâm thanh tịnh ấy nên cứ lẩn quẩn trong bể khổ, đó chính là ý nghĩa câu nói của đức Phật: “si mê không biết lối đi, đấy mới thực là khổ”.
2.- Đâu Là “Bỉ Ngạn” (bờ bên kia).
“Bỉ ngan” là cái bến bờ hạnh phúc chân thật mà chàng cùng tử đã bỏ đi để rồi sa chân vào “khổ hải mang mang”. Cái hạnh phúc chân thật ấy là cái bản tâm vốn trống trải, thanh tịnh của con người (tâm ông Adam lúc chưa ăn trái cấm) vốn chưa biết phân biệt TA/NGƯỜI (hay “duy ngã độc tôn”), nên chưa biết tham lam, sân hận, Si mê, Kiêu mạn, Ganh tị…, do đó không có tranh giành, xung đột, âm mưu, thủ đoạn…, không vướng mắc những được/mất, hơn/thua, thắng/bại…, và nhờ đó không bị phiền não do thiện/ác, hoan hỉ/sầu muộn, ân/oán, khinh/trọng, thân/sơ, yêu/ghét…. Cái tâm như thế là tâm bất nhị (tánh không hai), trung đạo (ở giữa, không thiên về bên nào), tánh không (vì tâm trống rỗng), bản lai diện mục (cái tâm có từ xưa, và nay vẫn còn đấy, nhưng bị che lấp bởi phiền não), đó là Phật tánh (tánh không hai là Phật tánh)
Xin hình dung cái cội nguồn, cái “bỉ ngạn”, hay bản tâm thanh tịnh ấy như sau đây:
Vì không biết (vô minh) mình đang được hưởng cái hạnh phúc chân thật vốn có ấy, nên con người dễ nghe theo cám dỗ (vì chưa trải qua đau khổ) mà từ bỏ ra đi, ta có thể tưởng tượng bằng hình ảnh ông Adam và bà Eve bị con rắn dụ dỗ ăn trái cấm để rồi khởi biết phân biệt thiện ác, cũng là “khởi tâm phân biệt” TA/NGƯỜI ( vì có phân biệt TA/NGƯỜI mới sinh ra phân biệt thiện/ác).
Khi “khởi tâm phân biệt” tức là bước vào thế giới nhị nguyên hơn/thua, được/mất, thiện/ác, vui/buồn, ân/oán…và quay cuồng với chúng. Đó là nơi “khổ hải mang mang”, mờ mịt không biết đường về, nên cũng gọi là “bến mê”. Chán chường mệt mỏi trong bể khổ, nhìn lại bờ bên kia, nơi hạnh phúc chân thật, con người muốn quay lại tìm đường về: Đó là “hồi đầu thị ngạn”. Với quyết tâm với nỗ lực cả về trí óc lẫn sức lực, lại được hướng dẫn bằng Phật pháp, con người trở lại được bến cũ nay là “bờ giác”, đó chính là “đáo bỉ ngạn”. Cũng xin hình dung con đường “Ra đi” và “Trở về” theo hình minh họa sau đây:

Bờ bên này (bến mê) và bờ bên kia (bờ giác) bị phân cách bởi một chướng ngại vô cùng to lớn: đó là “tâm phân biệt TA/NGƯỜI” hay tâm “duy ngã độc tôn”, hay là “chấp ngã”. Vượt qua chướng ngại này là vô cùng khó khăn, phải chiến đấu với chính mình để chuyển từ “yêu TA hơn NGƯỜI” thành “yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA”, TA và NGƯỜI tuyệt đối bình đẳng, tức là không còn phân biệt TA/NGƯỜI. Được như vậy mới có thể đạt đưọc đạo qủa “Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác” trong đạo Phật. Trong Kinh Kim Cang, đức Phật định nghĩa đạo quả này (cũng là một pháp) là
“pháp này bình đẳng, không cao không thấp, gọi tên là Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả (3) , mà tu hết thảy các pháp lành, tức thành (đạo qủa) Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác”.
[─ “pháp này bình đẳng” : phương pháp tìm tới sự bình đẳng tuyệt đối giữa TA và NGƯỜI, TA và chúng sinh, TA và thọ giả (3) (người cho và người nhận), đó chính là "tâm không phân biệt".
─ “không cao không thấp” : là tâm không còn phân biệt.
─ “Chánh giác”: đó là giác ngộ chân chánh.]
Nói bỏ "ác" thì đơn giản, nhưng làm sao bỏ thì là cả một vấn đề. Một cách tổng quát, bỏ ác là đổi tâm nhị nguyên phân biệt TA/NGƯỜI (yêu TA hơn NGƯỜI) thành tâm bất nhị "yêu NGƯỜI như yêu TA" (NGƯỜI = TA). Khi đã yêu NGƯỜI chân thật thì những hành động đối với NGƯỜI đều không còn mang tính ác, "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10), cũng giống như một bà mẹ yêu con thì chẳng bao giờ làm ác với nó. Đó là sống vì hạnh phúc của người, là vị tha, là vô ngã. Phương pháp nào để làm được như vậy? -- nếu theo Phật có Phật pháp, nếu là Kitô hữu thì theo lời dạy của chúa Jesus. Một vài ví dụ về Phật pháp:
3.- Lục Hạnh Ba-La-Mật.
Để giúp người muốn trở về với bản tâm thanh tịnh hay bờ giác, hay Niết bàn, đức Phật đưa ra rất nhiều phương pháp tùy theo căn cơ trình độ mỗi người (để tượng trưng cho cái số nhiều ấy, đôi khi chúng ta nghe nói tới con số 84 ngàn pháp môn), gọi là Phật pháp, trong đó có “lục hạnh ba-la-mật”, hay “lục pháp ba-la-mật”, hay “lục độ ba-la-mật”.
Ba-la-mật nghĩa là “đáo bỉ ngạn” là “qua bờ bên kia”. Và “lục hạnh ba-la-mật” là sáu hạnh cần có để giúp ta từ “bến mê” có thể vượt được qua con sông đầy chông gai hiểm trở (là tâm phân biệt hay duy ngã độc tôn) để tới bờ bên kia, là “bờ giác”.
Lục hạnh ba-la-mật gồm có: Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật, và Trí huệ ba-la-mật.
Đã có rất nhiều giải thích về lục hạnh ba-la-mật, người viết chỉ xin… “diễn nghĩa” thêm một tí về hạnh đầu tiên là bố thí ba-la-mật, và hạnh thứ ba là nhẫn nhục ba-la-mật, được đức Phật nhắc nhở tới nhiều lần trong kinh Kim Cang.
4.- Bố thí ba-la-mật.
Theo kinh Phật, muốn qua được bờ giác hay Niết bàn, phải “đoạn diệt tham sân si”. Vũ khí hàng đầu để diệt lòng tham là làm việc bố thí. Bố thí là lấy của mình (TA) mà cho NGƯỜI khác, nên nếu thực lòng cho đi thì không còn muốn giành giựt về cho TA nữa, do đó giảm được lòng tham; lòng tham giảm có nghĩa là TA không cần hơn NGƯỜI nữa (vì muốn hơn NGƯỜI mới tham), do đó "tâm phân biệt TA/NGƯỜI" cũng giảm theo, và dần dần trở về cái bản tâm “không phân biệt” vốn có ban đầu. Do đó gọi là bố thí ba-la-mật (hành động "bố thí" giúp đưa ta qua bờ bên kia, là bờ giác). Như vậy, thực hành hạnh bố thí chính là thực hành diệt lòng tham trên con đường trở về bờ giác hay Niết bàn.
Trong kinh Kim Cang, đức Phật nhấn mạnh tới hạnh bố thí, phải “…nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí”, mới là đúng pháp bố thí ba-la-mật (cho nhưng không mong cầu đền đáp, không vì một điều kiện dù nhỏ nhoi nào cả, kể cả một ý niệm là TA sẽ được phước đức khi bố thí, kể cả ý nghĩ rằng TA đã bố thí cho Người…, không một mảy may vướng cái TA vào với hành động bố thí). Xin trích lại hai đoạn trong kinh Kim Cang, nói về hạnh bố thí:
Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: Đối với tất cả các loài chúng sinh (…) ta đều độ nhập vào vô dư niết-bàn (bố thí pháp). Như vậy diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ.
Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! nếu Bồ-tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả (3) thì chẳng phải là Bồ-tát."
Đưa chúng sinh vào Niết bàn là “bố thí pháp” cho chúng sinh, nhưng lại… không thấy chúng sinh nào được đưa vào Niết bàn, đó là do nơi tâm vị bồ tát đã bỏ hẳn ý niệm phân biệt TA/NGƯỜI, TA/CHÚNG SINH, TA/THỌ GIẢ (người cho/người nhận) (3) , không còn ý niệm người cho (là TA) ─ vật cho ─ NGƯỜI nhận (tam luân không tịch). Đó là đã dứt hẳn tâm “phân biệt Nhân/Ngã” hay tâm “duy ngã độc tôn”, là trở về bản tâm thanh tịnh không phân biệt.
Đây không phải là người… mất trí ! Cái TRÍ óc vẫn thấy và làm hành động bố thí một cách bình thường, sáng suốt, khách quan; nhưng riêng cái TÂM thì không còn mảy may vướng mắc vào ý niệm như “đây là TA ban ơn cho NGƯỜI, và ta sẽ được phước đức”,… không có gì dành cho cái TA ở đây cả.
Một trích đoạn khác trong kinh Kim Cang, cũng mang ý tương tự, nhưng đức Phật lấy chính mình làm ví dụ, mang ý nghĩa tương tự:
"Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Các ông chớ bảo Như Lai khởi nghĩ thế này: Ta sẽ độ chúng sanh.Này Tu-bồ-đề, chớ khởi nghĩ thế ấy. Vì cớ sao? Thật không có chúng sanh Như Lai độ đó. Nếu có chúng sanh Như Lai độ đó thì Như Lai ắt có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả" (3) .
Trong kinh thánh tân ước, chúa Jêsus khi đề cập việc bố thí cũng có ý tương tự như vậy:
"Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.”
Khi bố thí mà phô trương với thiên hạ là tự tôn cái TA lên cho NGƯỜI thấy là TA đang làm việc phước đức, đó là tự hạ mình xuống theo lời chúa Jesus "ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống". Cái TA đã nổi lên nhờ sự phô trương, cái TA được sung sướng nhờ vào lời khen ngợi tán tụng của người khác, đó là phần thưởng ta đã... nhận rồi.
Nhưng nếu bố thí mà không mong cầu một sự đền đáp (dù chỉ là sự thán phục của người khác, hay ước muốn được phước đức), tức là thực sự vì lòng thương người, là đã bỏ được ý niệm phân biệt TA/NGƯỜI... Đó là cái "hạnh phúc" chân thật, trong Kitô giáo ví cái "hạnh phúc" ấy như là một sự "trả công" của Thiên Chúa. Còn nếu bố thí không phải vì lòng thương người, mà còn cái TA vương vấn trong đó, thì không nhận được sự "trả công" đó, như trong câu nói của thánh Phaolô "Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi." (1 Côrintô 13,3) ("đức mến" dịch từ "charity": lòng nhân đức, lòng từ thiện, mang tính cách yêu người. Có bản dịch dùng chữ "love" thay vì chữ "charity")
5.- Nhẫn Nhục Ba-La-Mật.
▪ Nhẫn nhục có nghĩa kiên trì chịu đựng sự căm ghét hay phỉ báng của kẻ khác, chịu sự khổ ải mà không mất đạo tâm tinh tiến (từ điển Phật học Đạo Uyển)
▪Nhẫn nhục là nhịn thua người ta và chấp nhận điều sỉ nhục, không có ý trả hận.(Cao Đài từ điển)
Nhẫn nhục cũng mang ý nghĩa của lòng tha thứ, vì không có ý trả hận, không lấy oán trả oán, và ở mức cao hơn nữa là lấy ân trả oán như lời đức Phật dậy.
Phân biệt nhân/ngã là nguyên nhân của lòng SÂN hận và dễ đưa tới tội ác. Có được lòng nhẫn nhục thì không thù oán, không giận giữ, không uất hận… nên không có trả thù và không tội ác. Vậy lòng nhẫn nhục là vũ khí để trừ tâm SÂN hận. Bỏ được lòng sân hận là bỏ được tâm phân biệt nhân/ngã, tức là trở lại với bản tâm.
Trích đoạn đức Phật nói về bản thân mình, trong kinh Kim Cang:
"Này Tu-bồ-đề như thuở xưa ta bị vua Ca-lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Vì cớ sao? Ta thuở xưa khi thân thể bị cắt ra từng phần nếu còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, sẽ nên sanh sân hận."
Vì không còn phân biệt nhân/ngã, "yêu người như yêu bản thân", người với ta như hòa đồng một thể, nên khi bị vua Ca-Lợi cắt đứt thân thể, tâm ngài không sinh oán hận, vì nếu oán hận người cũng như là oán hận chính mình sao. Khi không còn phân biệt nhân/ngã thì không có sự hiện diện của lòng sân hận. Thực hành được hạnh nhẫn nhục là thực hành diệt lòng sân hận trên con đường tìm về bờ giác hay Niết bàn.
Với chúa Jêsus, ngài cũng không mang lòng hận thù đối với những người đã đưa ngài lên thập tự giá để đóng đinh: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm."
Nói về lòng tha thứ, cũng là nhẫn nhục, đây cũng là lời nói rất quen thuộc của chúa Jesus: Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.
Tóm lại, cái đích cuối cùng của lục hạnh ba-la-mật là diệt tham, sân, kiêu mạn, ganh tị, để trở lại với bản tâm "không phân biệt TA/NGƯỜI" (cũng là tâm bất nhị hay Phật tánh). Đó là đích cuối cùng, là “bỉ ngạn”, là bờ giác, cũng là Niết bàn, là vườn Ê- đen, cái gốc gác vốn có sẵn nơi con người, nhưng vì không biết đã bỏ lại để rồi sa chân vào bể khổ. Nếu nhận chân được điều này, mạnh dạn quay về sẽ thấy lại bến xưa, nơi hạnh phúc chân thật.
6.- Đường Về : Quy Y Tam Bảo.
Trong bài viết "Quy Y Tam Bảo", hòa thượng Thích Thiện Hoa giải nghĩa nhóm từ này giống như ý nghĩa của "hồi đầu thị ngạn", hay là ý nghĩa của câu chuyện "cùng tử dụ":
"Quy là trở về, Y là nương tựa, Quy Y là trở về nương tựa nơi mà mình đã vì si mê, phóng lãng đã lìa bỏ ra đi, như đứa trẻ khờ dại đã rời bỏ cha mẹ để ra đi hoang phá, bây giờ biết sự dại khờ do kinh nghiệm khổ đau, quay trở về nương tựa dưới bóng hạnh phúc và yêu thương của cha mẹ. Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam Mô của Phạn ngữ. Quy Y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng."
Như vậy, "quy y tam bảo" là tìm quay về với bản tâm vốn có của mình tức là cội nguồn hay Phật tánh (Phật tánh là tánh không hai, cũng là bản lai diện mục, trung đạo, vô ngã, tánh không, và cũng chính là Niết bàn), bằng cách nương vào phương pháp và những lời dạy của đức Phật, ta gọi là Phật Pháp, và nhờ sự hướng dẫn của các vị Tăng Ni hay các đoàn thể Tăng Ni chân chính là những người đi trước. Đó là quy y Phật-Pháp-Tăng, đó là đường về, là "hồi đầu thị ngạn" và cũng là "phản bổn hoàn nguyên" vậy ./.
Duy Đức
(Oct-2008)
Ghi chú:
(2) Có hai cách hiểu về chữ "sanh", trong “sanh, lão, bệnh, tử”:
2.1: với lý vô thường: chữ sanh là sanh ra. Con người sanh ra rồi già/bệnh và chết, theo lý vô thường, sanh trụ hoại diệt, giống như chiếc lá, từ búp lá rồi thành lá xanh rồi héo úa và rơi rụng.
2.2: nói về sự khổ: chữ sanh có nghĩa là sanh sống. Khi chưa tìm ra chân hạnh phúc, thì sự sanh sống, bệnh tật, già lão, và cái chết, luôn đeo theo tính chất khổ.
(3) Thọ giả:
hầu hết các bản dịch hán văn ghi chữ “thọ” là tuổi thọ. Nhưng riêng có bản dịch của ngài Chân đế (giữa thế kỷ 16) thì chú giải “chữ thọ là
kinh Kim Cương”) do đó có thể hiểu chữ “thọ” nói trên là “chịu” sự bố thí” hay “nhận” bố thí, và "thọ giả" là người chịu hay nhận bố thí. Trong
đoạn kinh Kim Cương này Phật nói về bố thí Pháp.