Thiên Chúa là Tình Yêu.
“In God We Trust”
 
Trang  (1)   (2)
1.- Thiên Nhiên Kỳ Diệu.
Một buổi sáng cuối tuần, trời ấm áp, tôi cùng bà xã đi bách bộ quanh một cái hồ lớn. Một đàn chim, có lẽ tới cả chục ngàn con, từ một bãi cỏ rộng chợt đồng loạt bay vù lên. Chúng bay đồng loạt, quẹo cũng đồng loạt, lượn cũng đồng loạt, rồi hạ cánh cũng đồng loạt xuống một hàng rào dây kẽm rất dài, đậu cách nhau rất đều đặn, như đã được huấn luyện trước vậy. Nhìn hoạt cảnh ấy khá là ngoạn mục.
Trong thiên nhiên, không biết là bao nhiêu điều còn ngoạn mục hơn thế nữa, đến mức kỳ diệu. Các sinh vật muôn loài, mỗi loài một vẻ. Rồi các tinh tú, núi non, sông biển, rừng, suối, thác, ghềnh, mây bay, gió cuốn… Cứ quan sát chính con người đủ thấy bao nhiêu là kỳ diệu. Chỉ con mắt thôi cũng thấy ngộ nghĩnh rồi, cái gì khiến nó nhìn thấy mọi thứ chung quanh, lâu lâu nó lại còn được mi mắt xụp xuống kéo lên lau cái tròng cho nó đỡ mờ, đỡ khô, hoặc là ngăn vật gì bất chợt bay vào, hoặc nheo lại cản bớt ánh sáng chói lọi, thêm hai hàng lông mày lông mi cản giọt mồ hôi từ trên trôi xuống hoặc những bụi bậm hoặc những vật nhỏ bay vào mắt… Rồi cái tai, cái mũi, cái miệng, cái lưỡi, trái tim, bộ óc biết suy nghĩ… Rồi các sinh vật khác, rồi cây cỏ…, bao nhiêu là kỳ diệu.
Thế do đâu hay ai đã sinh ra cái vũ trụ với bao kỳ diệu ấy? Khó mà xác định đâu là câu trả lời cuối cùng… Để tạm có sự giải thích, người thì thích dùng chữ “vô thủy vô chung”, người thì tin rằng có một vị Thiên chúa hằng hữu đã sáng tạo, tuy rằng chẳng ai có thể giải thích hay chứng minh cụ thể được. Nhưng nếu cuộc sống cứ được bình an, êm ả thì chắc chẳng cần thắc mắc mà làm chi.

2.- Thiên Nhiên Phẫn Nộ.

….Nếu cuộc sống cứ bình an, êm ả từ thời khai thiên lập địa, thì chắc chẳng cần thắc mắc làm chi những câu hỏi vớ vẩn đó, hoặc có thắc mắc thì cũng để đấy từ từ rồi trả lời.
Thế nhưng nó không êm ả! Thỉnh thoảng thiên nhiên lại nổi cơn thịnh nộ, gầm thét, phô trương sức mạnh vô song, trút cơn giận dữ, đập phá tan hoang vào con người, vào các sinh vật sống chung với con người, vào ruộng vườn, cây cối, nhà cửa, núi đồi, sông biển…
Đại hồng thủy trong kinh thánh, tsunami tại Indonesia năm 2004, núi lửa, động đất…, rồi đói rét, bệnh hoạn, tại nạn, cọp vồ, voi đạp, rắn cắn, ma qủy…là những tai họa lớn nhỏ...,và cái chết… là nỗi khiếp sợ nơi mỗi con người.Trước những sức mạnh và sự việc bí ẩn ấy, con người thấy mình quá nhỏ bé, yếu ớt, cho rằng đó là những cơn thịnh nộ của một đấng thần linh nào đó trên cao, trừng phạt, vì một sự thiếu sót nào đó của con người mà đấng đó không hài lòng; hoặc là do thế lực bí ẩn gây ra mà con người cần sức mạnh của thần linh để trấn áp. 
Thế là nẩy sinh ra ý nghĩ rằng muốn tránh những trừng phạt ấy con người phải bái lạy, cầu xin, tế lễ, dâng hiến… những thứ mà ta nghĩ là làm thỏa mãn, xoa dịu được thần linh; và tiến thêm một bước là cầu xin thần linh giúp đỡ cho cuộc sống tốt đẹp hơn, thậm chí chống lại những kẻ thù khác cùng đồng loại với mình, có khi làm cả  những điều gian ác cũng xin thần linh giúp đỡ. Cúng tế, bái lạy… giống như là sự mua chuộc, để đưa thần linh lên làm thủ lãnh…phe ta.
■ Những thần linh mà con người thời ấy bái lạy ấy là những gì? - Có nơi là thần mặt trời, mặt trăng, thần núi, thần đất, có chỗ là thần sông, thần sấm, thần chớp, có nơi lại là con bò, con cọp, con bê…, có khi người ta tưởng tượng một vị thần nào đó để tôn thờ, ví dụ thần tài để giúp về của cải tiền bạc…
■ Những thần linh ấy có linh, có đáp ứng được những mong mỏi của những người tôn thờ không?
- Một ngày nào đó, mây đen vần vũ kéo tới, rồi cơn giông bão tàn phá xóm làng.
- Một ngày khác, cũng mây đen kéo tới như vậy, người ta cầu xin thần,… mây đen rẽ đường khác,  thoát cơn thịnh nộ, và người ta tin là sự cúng bái cầu xin đó linh nghiệm.
- Rồi một lần khác nữa cũng như thế, cũng cầu xin, nhưng bão tố vẫn tàn phá, người ta lại nghĩ có lẽ mình chưa đủ lễ nghi, chưa đủ thành tâm, còn thiếu sót gì đó chăng nên vẫn bị phạt …
Cứ thế, người ta xây dựng niềm tin như thế, có khi cũng nghi ngờ, nhưng “có tin có lành”, và người ta vẫn cứ phải có một vị thần nào đó để làm chỗ dựa. 

Ngày nay, khi khoa học phát triển, niềm tin, bái lạy, cầu khẩn vào những vị thần như thế bị coi là mê tín dị đoan.
Và, ở cái thời xa xưa ấy, cũng có người không tin là có hàng trăm thần khác nhau như vậy để mà thờ phượng, bái lạy, cầu xin. Họ chỉ tin rằng có một cái gì đó duy nhất chung cho tất cả mọi người mọi vật. Đối với Thiên Chúa giáo, khởi đầu, niềm tin đó là có một vị Thiên Chúa duy nhất, đấng đã tạo dựng ra vũ trụ và con người, bao trùm tất cả những gì hiện hữu trong vũ trụ. Ngoài Thiên Chúa ra, không có một vị thần nào khác để con người phải thờ phượng. Tinh tú, mặt trời, mặt trăng, núi rừng, sông biển, con người và mọi sinh vật, mọi hiện tượng… đều do Thiên chúa tạo dựng ra, không phải là thần thánh gì cả để mà phải tôn thờ. Đó là lý do mà việc thờ phượng những vị thần như thế bị bác bỏ, và những ai thờ phượng như vậy còn bị coi là phạm tội. Điều cấm này đã được ghi trong mười điều răn của Thiên Chúa trong kinh thánh cựu ước:
"Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác."
"Ngươi chớ tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như ở dưới đất thấp, hoặc ở trong nước bên dưới đất. Ngươi sẽ không bái lạy chúng hoặc thờ phượng chúng".
(đối với Phật giáo cũng có điểm tương tự: Lời phát nguyện của Phật tử khi qui y tam bảo là nguyện suốt đời qui y Phật, chứ tuyệt đối không được tôn thờ Thiên, Thần, Qủy, Vật…).
Theo tinh thần khoa học ngày nay thì những điều cấm ấy cũng không có gì là bất hợp lý hay kỳ thị. Đó chỉ là mê tín dị đoan, chẳng giúp ích gì cho con người mà có khi lại đem tới những tai họa.
Thế vị Thiên chúa ấy là ai?

3.- Thiên Chúa Là Ai ?

3.1.- Thiên Chúa: một người “Cha” nhân từ nhưng nghiêm khắc.

Ngày còn bé tí, trong tâm trí của tôi chỉ có cha tôi là vĩ đại hơn hết. Tôi vừa thương yêu ông, lại vừa kính sợ ông. Sự hiện diện của ông bên cạnh làm tôi yên lòng. Hình ảnh ông là chiếc dù che chở nắng mưa, là kho lương thực để không đói, là sức mạnh làm tiêu tan những nguy hiểm đe dọa, là chỗ nương tựa vững chắc không đâu bằng. Bên niềm tin yêu ấy, là sự kính sợ, vì ông sẵn sàng trừng phạt nặng nề nếu tôi phạm lỗi lầm vì làm sai những điều mà ông đã chỉ dạy cho tôi trước đó. Tuy sợ nhưng tôi vẫn thấy hạnh phúc dưới bóng ông. Sự hiện diện của ông không thể thiếu trong cuộc đời lúc đó.
Ở một trình độ nào đó, cái nhu cầu có một người cha như thế vẫn tồn tại ở khá nhiều người mặc dầu không còn là một đứa trẻ nữa. Sống trong bao nhiêu là đe dọa của thiên nhiên, nhất là sự chết đầy bí ẩn, họ vẫn thấy cần phải tìm một chỗ dựa như thế. Từ đó mà có sự hiện diện của một vị Thiên chúa trong vai một người cha nhân từ nhưng cũng rất nghiêm khắc, sẵn sàng ban ơn phước nếu họ làm đúng theo lời ngài dạy, và giáng hình phạt nếu làm trái lời dạy. Họ cảm thấy được yên lòng khi được dựa vào một người cha như thế chỉ với điều kiện vâng lời ngài chỉ dạy. 
3.2.- Thiên Chúa: một vị “minh quân” nhân từ nhưng nghiêm khắc.

Khi cái thời bé tí ấy trôi qua, người cha chỉ còn là một đối tượng để kính trọng, nhưng không còn đủ quyền uy làm ta sợ hãi nữa. Ta không còn nhu cầu cần nương tựa hoàn toàn vào ông, vì ta đã có những ý nghĩ độc lập, có khả năng tự túc cho đời sống của mình. Và cuộc sống chung đụng trong xã hội con người, sinh ra những yêu ghét, hận thù, khổ não…, cộng thêm vào những đe dọa đầy bí ẩn của thiên nhiên nhất là cái chết vẫn còn đó, mà người cha không còn đủ uy lực để giải quyết. Hơn nữa, mỗi người hay  mỗi đoàn thể lại có một người cha riêng như vậy, thì lẽ phải hay chân lý đứng về phía nào ? Hẳn phải có một cái gì chung nhất.

Do đó, con người cần một nơi nương tựa khác, đó là một đấng bề trên nhân từ, quyền uy, sáng suốt, nghiêm minh giống như một vị “minh quân”, để phân xử những đụng chạm giữa người và người, giữa người và thiên nhiên, có thưởng phạt công bình.
Tới đây, hình ảnh Thiên chúa từ một người cha trở thành một “minh quân”, (hoặc vừa là một người cha vừa là một minh quân) bao trùm cả các vị vua trần thế, bao trùm cả thiên nhiên vũ trụ, sẵn sàng đứng về phía ta để bênh vực cho ta, thương xót cứu vớt khi ta gặp hoạn nạn, ban hạnh phúc cho ta, (hứa hẹn có thể có cả một cuộc sống hạnh phúc đời đời), tha thứ nếu ta phạm lầm lỗi nhưng biết hối lỗi..., chỉ với điều kiện là vâng lời ngài dạy.
Muời điều răn là những lời dạy căn bản nhất, và những lề luật sau đó, có thể gọi là luật pháp của vị “minh quân” đối với “thần dân” của ngài.
Bên cạnh những điều răn cũng đã sẵn có những hình phạt như “ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra” như những lời răn đe. Và dựa vào đó, xã hội (Do Thái) thời đó tạo ra những luật lệ kiểu “răng đền răng , mắt đền mắt”, ai vi phạm giới răn và điều luật sẽ bị trừng phạt năng nề, ngay cả giới răn cũng có khi được hiểu theo cách có lợi cho giới có quyền thế.

3.3.- Thiên Chúa là Tình Yêu.

Hình ảnh Thiên Chúa nếu cũng chỉ như thế thì… hình như vẫn chưa là vị Thiên Chúa của tất cả mọi người. Đó chỉ là niềm tin, tuy không thể chứng minh là KHÔNG, nhưng cũng khó có thể chứng minh là CÓ, nên cũng có người tin cũng có người không tin.
Nếu vượt qua niềm tin như thế, ta đi tới một mức độ khác để hiểu thêm một ý nghĩa về Thiên Chúa, làm cho hai chữ Thiên Chúa có thể mang tính cách chung cho mọi người: Đó là “Thiên Chúa là Tình Yêu”

“Tình Yêu” có lẽ là hai chữ quan trọng bậc nhất trong Ki-tô giáo (và có lẽ trong... cả các tôn giáo khác). Nếu bạn nuôi dưỡng được tình yêu rộng lớn (bác ái) đối với mọi người thì coi như bạn đã thấy được Thiên Chúa.
Tất cả những điều răn và những lề luật được chúa Jesus tóm tắt lại chỉ còn hai điều răn: 1/ yêu mến Thiên Chúa, 2/ yêu tha nhân như chính thân mình; tuy hai nhưng ngài lại nói “cũng giống nhau”:
“Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy" (Mt 22,37-40)

Và thánh Phao-lô nói khi "đã yêu đồng loại như chính mình" là đã chu toàn mọi lề luật: “…ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy. (Rm 13:8-10)
 
Thế rồi, trong những ngày giờ cuối, trong buổi tiệc ly, chúa Jesus đã tổng hợp hai điều răn quan trọng trên thành một điều răn, duy nhất:

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13,34-35).

["Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi.  Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!" (Ga-lát 5:14-15)]

Như vậy là Thiên Chúa hoà đồng cùng hai chữ Tình Yêu, Thiên Chúa với Tình Yêu là một, hay "Thiên Chúa là Tình Yêu"

Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8)

Thiên Chúa là tình yêu: ai ở trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy (1Ga 4,16).

Ta có thể hiểu câu nói "Thiên Chúa là Tình Yêu" theo hai cách, tùy theo niềm tin của mỗi người:

-- Nếu bạn tin có Thiên Chúa, thì bạn coi Tình Yêu là bản tính của Thiên Chúa. Nếu bạn "yêu tha nhân như chính mình" là Thiên Chúa ở cùng bạn, còn nếu bạn ghét người khác là bạn đã xa rời hay chối bỏ Thiên Chúa.

-- Nếu bạn không mang niềm tin có một vị Thiên Chúa, thì bạn có thể coi hai chữ "Thiên Chúa" như là một cách nói khác của hai chữ "Tình Yêu". Thiên Chúa và Tình Yêu tuy là hai nhưng bản chất là một
, chỉ khác nhau từ ngữ mà thôi, Thiên Chúa = Tình Yêu, hay Thiên Chúa ↔ Tình Yêu; cũng như một đóa hoa, tùy ngôn ngữ, có thể là fleur, flower, bông hoa... nhưng dù ở đâu, gọi là gì, thì nó cũng chỉ mang một bản chất… là đóa hoa: bông hoa = flower = fleur = đoá hoa. 
Chỉ cần bạn “thương người như thể thương thân”, hay “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”, là bạn đã mang hai chữ TÌNH YÊU viết hoa trong tâm, dù bạn không muốn nhưng lúc đó có thể có một người nào đó thấy là chính Thiên Chúa ở trong bạn rồi, vì với họ "Thiên Chúa" là "Tình Yêu".
 
Nói vậy là để dành cho những người còn phân vân trước hai chữ Thiên Chúa, chứ trong thực tế, cho đến giờ, hình ảnh một vị Thiên Chúa nhân từ nhưng nghiêm khắc vẫn là một chỗ nương tựa rất cần thiết cho rất nhiều người. Người ta vẫn cần có đôi bàn tay màu nhiệm, dù vô hình, cứu vớt những khi đau đớn tuyệt vọng, vẫn cần sự ân thưởng từ trên xuống như là một động lực để làm điều thiện, và tin có sự trừng phạt đích đáng từ trên xuống cho ai đó làm điều ác... Đó là bàn tay Thiên Chúa. Do vậy, niềm tin như thế vẫn còn là điều cần thiết trong đời sống xã hội xưa cũng như nay, tuy mức độ có khác nhau. Tuy nhiên tin Thiên Chúa thì phải thực hành phát triển Tình Yêu nơi mình mới có ý nghĩa, vì không nuôi Tình Yêu trong tâm mình chẳng khác gì chối bỏ Thiên Chúa. Ở đây phải hiểu hai chữ Tình Yêu là "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình". "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10), đó là hòa bình, là hạnh phúc, là bình an.
 
Trong "Thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô", thánh Phaolô nói vai trò của "Tình yêu thương" (love) quan trọng vượt trên "đức tin" (faith) và "đức cậy" (hope):
 
"Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, đức cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương." (1 Cô-rin-tô 13:13)
 
(So now faith, hope, and love abide, these three; but the greatest of these is love.) (Corinthians 13:13)

Và tất cả lề luật đều nằm trọn vẹn trong chữ tình yêu thương: "Vì tất cả lề luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi.  Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!" (Ga-lát 5:14-15).

Sự quan trọng của tình yêu thương được thánh Phaolô giải thích như sau:
 
 "Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.
  Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.
  Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi." (1 Cô-rin-tô 13:1-3).

Một đứa bé, trong ngày Giáng sinh, nó để đôi vớ dài cạnh lò sưởi, và buổi sáng thức dậy, nó vui sướng khi thấy đầy đồ chơi trong đó. Trong trí óc trẻ thơ của nó, nó tin rằng lúc nửa đêm, có ông già Nô-en, cũng yêu nó như cha mẹ nó, đã xuống cho nó những món quà. Và nó tin tưởng như thế trong suốt thời trẻ thơ của nó. Nhưng khi lớn khôn rồi, thì nó biết rằng chính ba mẹ nó đã tặng đồ chơi cho nó vì tình yêu đối với nó. Đức tin, đức cậy của con người, cũng giống như trí óc của đứa trẻ, khi còn trẻ ăn nói hiểu biết suy nghĩ như con trẻ, nhưng khi đã là người lớn, trí óc rộng mở ra rồi, thì những gì là con trẻ sẽ để lại phía sau, như lời thánh Phaolô: 

"Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ." (1 Cô-rin-tô 13:11)

Và đức tin, đức cậy cũng sẽ lùi về phía sau  nhường chỗ cho tình yêu thương vị trí  vĩnh viễn và cao trọng nhất: Tình yêu chính là Thiên chúa. Đức tin, đức cậy, trong giai đoạn đầu giữ vai trò cũng quan trọng để hướng dần con người tới với tình yêu, nhưng ta có thể hiểu đó chỉ như những... phương tiện để đưa tới cái đích cuối cùng là tình yêu thương, khi đã tới được đích rồi thì những phương tiện không còn cần nữa, giống như đứa trẻ khi "...đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ." Cái ý niệm này cũng giống như cách đức Phật ví các pháp của ngài giống như chiếc bè đưa người từ "bến mê" qua bờ bên kia (bỉ ngạn) là "bờ giác", khi qua được rồi thì chiếc bè (phương tiện) không còn cần nữa, vì không còn nhu cầu... trở lại "bến mê" nữa.

Ý niệm về Thiên Chúa cũng có thể hiểu như thế này: Khởi đầu là ý niệm có một vị Chúa toàn năng, ta phải vâng lời ngài để được ân sủng, --> kế đến là ý niệm muốn được ân sủng của Thiên Chúa thì phải có tình yêu tha nhân, (Thiên chúa và Tình Yêu song hành), đó là điều răn "mến Chúa, yêu người" --> và cuối cùng sẽ là Thiên Chúa (chính) là tình yêu, Thiên chúa là nhân cách hóa của hai chữ Tình Yêu: khi "yêu người" thì đồng nghĩa với "mến Chúa", nên "yêu người" là trọn vẹn như câu nói của thánh Phaolô "tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi." . Chính Tình Yêu đem lại hạnh phúc đời đời (đời này qua đời khác), không Tình Yêu là đau khổ triền miên. Đây cũng là ý niệm về Thiên đàng và địa ngục. Hai chữ Tình Yêu phải được hiểu là yêu tha nhân như yêu bản thân mình, "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10), đó là hòa bình, là hạnh phúc, là bình an.

4.- “In God We Trust”.

Trên các đồng tiền đô-la của người Mỹ ta đều thấy có in hàng chữ “IN GOD WE TRUST”.

Từ ngữ GOD tức Thiên Chúa chắc không làm cho tất cả mọi người hài lòng, vì không hẳn ai cũng tin có một vị Thiên Chúa, nhất là ở thời đại khoa học phát triển ngày nay.
 
Trong số những người không mang niềm tin đó, có một vị luật sư tại thành phố Sacramento, tiểu bang California, tên là Michael Newdow. Năm 2005 ông đâm đơn kiện chính quyền Hoa Kỳ là đã vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của mình, vì theo ông nhóm từ “In God We Trust” mang ý nghĩa bắt mọi công dân Hoa Kỳ, trong đó có ông, phải tin theo một niềm tin tôn giáo bị áp đặt trước với sự tán thành của chính quyền. Điều này theo ông cũng là vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ.

Tuy bị tòa án bác đơn với giải thích “In God We Trust” chỉ đơn thuần là một khẩu hiệu của quốc gia, chứ không liên quan gì tới tôn giáo, nhưng ông không hài lòng với giải thích ấy và cho biết sẽ tiếp tục vụ kiện.
 
Nếu bạn cũng không tin vào Thiên Chúa như Michael Newdow, bạn thử thay chữ THIÊN CHÚA (God) bằng chữ TÌNH YÊU (Love) (vì Thiên Chúa = Tình Yêu), chắc bạn sẽ không cảm thấy bất bình với cái câu sau : “Chúng Ta Tin Nơi Tình Yêu” (vì tin rằng Tình Yêu chân thật sẽ đem lại bình an, hòa bình, hạnh phúc cho mọi người).
 
Còn nếu bạn tin ở Thiên Chúa, thì bạn cũng hiểu “Chúng ta tin nơi Thiên Chúa” cũng có nghĩa là “Chúng Ta Tin Nơi Tình Yêu” (vì Thiên Chúa là Tình Yêu, và Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa"mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối.).
 
Cũng không nhất thiết phải đổi "IN GOD WE TRUST" thành “IN LOVE WE TRUST”, vì đó chỉ là... chữ nghĩa, mà bạn chỉ cần mỗi khi nhìn chữ GOD bạn hiểu đó là LOVE, cũng như khi bạn nhìn chữ “bông hoa”, “fleur”, hay “flower”… bạn đều nhận ra cái bản chất nó là Đóa Hoa, chứ không nhất thiết phải đổi chữ “flower” thành “bông hoa” bạn mới nhận ra đó là Đóa Hoa.
 
5.- Tội Tổ Tông.
 
Tới đây, xin trở lại một chút với “tội tổ tông” mà ông Adam phải mang nặng muôn đời, với tội danh thường được nói tới là “phản bội”, “chối bỏ”, hay “bất phục tùng” Thiên Chúa. Cũng với ý niệm “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, nếu ta lấy chữ TÌNH YÊU thay cho từ THIÊN CHÚA, thì tội của ông Adam đổi thành tội “phản bội”, “chối bỏ” hay “bất phục tùng” TÌNH YÊU, và mang một ý nghĩa có vẻ phổ quát hơn, dễ chấp nhận hơn dù với người không mang niềm tin Ki-tô giáo. Cách giải thích cũng đơn giản: Khi ông Adam phát khởi tâm phân biệt thiện ác, cũng chính là ông phát khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI,  là ông “yêu TA hơn NGƯỜI khác” (tức lòng vị kỷ; lòng vị kỷ sinh tham lam, sân hân, ganh tị, kiêu mạn..., từ đó sinh ra cái ác), trái ngược hẳn với ý nghĩa của hai chữ TÌNH YÊU trong Ki-tô giáo là “yêu NGƯỜI như yêu chính TA”. Như vậy là ông đã chối bỏ TÌNH YÊU, nên cũng có nghĩa là ông chối bỏ Thiên Chúa. Và tới ngày nay, con người chúng ta cũng vẫn tiếp tục chối bỏ Tình Yêu như vậy. 
 
Chối bỏ Tình Yêu như vậy là căn nguyên của xung đột, chiến tranh, bất hạnh, tội ác. Nuôi dưỡng và phát triển Tình Yêu như vậy là hòa bình, hạnh phúc, bình an, là không còn tội ác... "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10).... Sau này chính đức Jesus đã rao giảng tình yêu như thế, với mục đích để cứu nhân loại khỏi tội ác (coi như gỡ bỏ trách nhiệm tội tổ tông của ông Adam), và ngài đã hi sinh cả thân mình cho sứ mạng đó. Đó là ý nghĩa của ba chữ "Chúa Cứu Thế" mà nhân loại đã trân trọng khi xưng danh ngài. Và cây thập tự giá nơi ngài đã hi sinh thân mình một cách thánh thiện như thế được gọi là "Thánh Giá".
 
Thế Tình Yêu là gì mà có vẻ trọng đại và bao trùm tất cả như thế? Và nó đưa tới kết quả gì?

6.- Làm sao cắt nghĩa được Tình Yêu ?

 Trong bài thơ "YÊU" của thi sĩ  Xuân Diệu có một câu nói về chữ tình yêu rất là có ý nghĩa:

"Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu." 

Đây là một ý nghĩa khá sâu sắc về hai chữ Tình Yêu. Người viết bài này cũng có ý nghĩ gần như vậy, tuy rằng chữ Yêu này còn có tính riêng tư, vì mới chỉ giữa... chàng và nàng.

Tuy vậy, cái ý “nhận chẳng bao nhiêu” làm ta  vẫn cảm thấy có một sự hạn hẹp nơi tình yêu này, vì “người cho” đang mong đợi sự đền đáp đầy đủ cho hành động “cho rất nhiều” của mình.

Nhà văn Magaret Caroline Anderson (1886-1973) nói về tình yêu chân thật như sau:"In real love you want the other person's good. In romantic love you want the other person" (Trong tình yêu chân thật bạn muốn sự tốt đẹp cho người khác . Trong tình yêu lãng mạn bạn muốn [chiếm đoạt, sở hữu] người khác)

Nếu mở rộng hai chữ "tình yêu" đối với mọi người, nếu được như thế này: “Cho rất nhiều vì hạnh phúc của người, mà không mong cầu một sự đền đáp nào cả”, thì có lẽ đó mới chính là Tình Yêu chân thật, hoàn hảo. Đây là "tình cho không biếu không" không điều kiện, không mong đền đáp (xin giới thiệu bài viết "TINH CHO KHÔNG BIẾU KHÔNG" của tác giả Nguyễn Đông Khê)

Chữ "người"  nói chung là "tha nhân", gồm cả kẻ mà người đời mệnh danh là... "kẻ thù"! Yêu và vì hạnh phúc của cả "kẻ thù" !? Có vẻ khó khăn tới mức... không tưởng, nhưng... hình như đó là hướng đi của các tôn giáo. Chẳng phải chính đức Phật đã dạy "lấy ân trả oán, oán ấy mới tan" và đức Jesus thì nói "hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em" sao ?.

Cho rất nhiều và chỉ vì hạnh phúc của người, thì không còn vì TA (vị ngã) mà là vì NGƯỜI (vị tha). Đó là “yêu tha nhân như yêu chính mình”, điều răn duy nhất của đức Jesus.... Đó là hai chữ "Tình Yêu" trong câu "Thiên Chúa là Tình Yêu". Khi đạt được Tình Yêu ấy thì con người biểu lộ những đức tính "... hay nhẫn nhục, hay nhân từ, chẳng ganh tị, chẳng khoe mình, không kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, không tìm tư lợi, chẳng nóng giận, không nuôi hận thù, không vui vì điều không công bình nhưng vui trong lẽ chân thật, tha thứ mọi sự, tin tưởng mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự." (1 Côrintô 13:4-7)

"Yêu tha nhân (Người) như yêu chính mình (Ta)", cũng chính là “không phân biệt Ta/Người”, hay là "tâm bất nhị"  trong Phật giáo. Tâm bất nhị là "tánh không hai", "tánh không hai" là Phật tánh, nên "Tình Yêu" cũng chính là Phật tánh vậy.

Khi mọi người không còn mang tâm "phân biệt Ta/Người" thì không còn tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, do đó không còn tranh giành hơn thua, được mất, ân oán, thương ghét, thiện ác… Không còn "tâm phân biệt Ta/Người" là "không yêu Ta hơn Người", cũng là "yêu tha nhân như chính bản thân mình", khi đó mọi hành động của Ta là vì hạnh phúc của Người, và hạnh phúc của Người cũng chính là hạnh phúc của Ta. Đấy là bình an, hòa bình, hạnh phúc. Đấy cũng là Niết bàn, là vườn Ê-đen.

Tìm cho mình được Tình Yêu như thế kể ra cũng chẳng… dễ chút nào. Cho mà không mong cầu đền đáp, tha thứ cho kẻ thù, lấy ân trả oán… chẳng dễ chút nào., "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình"... chẳng dễ chút nào, bỏ "tâm phân biệt ta/người"... cũng chẳng dễ chút nào, đối diện và chiến đấu với sân giận, thù ghét... cũng chẳng dễ chút nào. Nhưng đó là con đường (đạo) duy nhất con người nên đi, dù có khó khăn. Đó là ý nghĩa “khung cửa hẹp” trong lời của chúa Jesus:

"Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.”

Cửa rộng là cửa đi vào để tìm hạnh phúc dựa vào vật chất giàu nghèo, danh vọng, quyền lực, hơn thua, thắng bại... do tham sân si hay lòng vị kỷ đem lại. Cửa đó đưa tới tranh giành, xung đột, chiến tranh... và bom hạt nhân, bom khinh khí... rất có cơ nguy sẽ nổ... để dẫn tới diệt vong. Còn cửa hẹp là cửa của tình yêu, yêu thương nhau thì không tham sân si, không tranh giành xung đột, không chiến tranh, không... bom nổ, con người sẽ được sống đời đời (đời ông bà tới đời con cháu) trong hạnh phúc và bình an. 
Chỉ có chíến đấu với chính nội tâm mình mới qua được khung cửa hẹp ấy để tìm thấy hai chữ "Tình Yêu" đích thực, cũng là tìm thấy Thiên chúa, vì "Thiên Chúa là Tình Yêu". Cuộc chiến nội tâm ấy nhiều khi đau xót như gươm chém giáo đâm vậy, như lời chúa Jesus: "ta tới không phải đem lại bình an, mà là gươm giáo" ./.


GHI CHÚ
Trong một bài viết nhan đề là “Tình thương là tôn giáo bình dị của nhân loại”, đức Đạt Lai Lạt Ma có nói :

“… sự thể hiện TÌNH THƯƠNG là điều rất quan trọng và qúy báu trong xã hội con người. Nơi đây chúng ta chẳng cần triết lý cao siêu, tu viện, chùa chiền, ảnh tượng để thờ, hay các thần linh v.v…, mà chúng ta chỉ cần tình thương. Đơn giản, chúng ta cố gắng trở thành một con người tốt, nghĩa là con người có tấm lòng vị tha. Đừng bao giờ sống ích kỷ mà luôn luôn quan tâm, tìm cách giúp đỡ mọi người, đó mới thực là tôn giáo chân chính, lợi ích cho nhân quần xã hội”.

Như vậy đối với đức Đạt Lai Lạt Ma, điều quan trọng bậc nhất cũng chỉ là lòng “vị tha, không vị kỷ”. Đó chính là TÌNH THƯƠNG tha nhân, và cũng có thể hiểu là chữ TÌNH YÊU trong câu nói “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Dù là đi con đường (đạo) nào, tôn giáo nào, cái đích cuối cùng phải đạt tới là TÌNH THƯƠNG hay TÌNH YÊU tha nhân, đó mới là tôn giáo chân chính.
 
Trang  (1)   (2)

Duy Đức
(Nov-2008)

 

Home                            Top                                     
___
 

 



This website is powered by TipTopWebsite.com