Chữ “PHÁP”
Trong Kinh Sách Phật Giáo
---------
Trong kinh sách Phật giáo, chúng ta gặp rất nhiều từ ngữ “pháp” được sử dụng. Ngoài chữ “pháp” mang nghĩa hẹp tạm hiểu là “phương PHÁP”, như trong từ “Phật pháp”, còn lại thì chữ “pháp” được giải thích trong các từ điển Phật học mang cái nghĩa quá rộng, hầu như bao trùm tất cả những gì có trong vũ trụ, từ cụ thể tới trừu tượng, từ vật chất tới tinh thần…, rộng qúa đến nỗi có khi không hiểu được là ý muốn nói tới cái gì nữa .
Thử phân tích xem có thể tìm một cách giải thích đơn giản hơn một chút nào chăng.
■ Đức Phật dùng chữ “lục trần” để đề cập tất cả những gì có trong vũ trụ, từ cụ thể tới trừu tượng, đó là “sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. "Lục trần" là một tập hợp gồm 6 thành phần riệng biệt, nên mỗi thành phần trong tập hợp đó đều phải khác biệt với nhau, ví dụ hình ảnh thì khác với âm thanh hay mùi vị…:
sắc  ≠  thanh  ≠  hương  ≠  vị  ≠  xúc ≠ pháp
Tới đây, ta tuy chưa rõ rệt về chữ “pháp”, nhưng điều chắc chắn là “pháp trần” phải khác với “sắc, thanh, hương, vị, xúc trần”. Ví dụ nếu ta nói “cái bàn” là “sắc trần”, thì không thể nói nó là “pháp trần” được; nếu ta nói “ vị cay” là  một “vị trần”, thì chắc chắn “vị cay” không thể đồng thời là “pháp trần” được.
■ Tương ứng với “lục trần” là khả năng tiếp nhận của con người là “lục căn”: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, trong đó ý căn là “khả năng suy nghĩ của khối óc” (Từ điển Phật Học Đạo Uyển).
1─ Sắc trần              tất cả hình ảnh, màu sắc,  có thể nhận ra được bằng mắt ↔    nhãn căn
2─ Thanh trần tất cả những âm thanh, có thể nhận ra được bằng tai ↔    nhĩ căn
3─ Hương trần tất cả các mùi hương,  có thể nhận ra bằng mũi ↔    tỉ căn
4─ Vị trần tất cả các vị cay đắng ngọt bùi…  nhận ra được bằng lưỡi ↔    thiệt căn
5─ Xúc trần tất cả những cảm giác như nóng, lạnh, trơn, nhám... cảm nhận bằng ↔    thân căn
6─ Pháp trần
còn lại “tất cả những gì còn lại trong vũ trụ vạn vật chưa
bao gồm trong 1,2,3,4,5”, thì cảm nhận bằng
↔    ý căn

 
Như vậy là ta đã giảm bớt "sắc, thanh, hương, vị, xúc trần" ra khỏi "pháp trần".
■ Nhận xét:
─ Những mục 1→5 thì đã khá rõ ràng: "Sắc, thanh, hương, vị, xúc", hầu như bao gồm tất cả những gì cụ thể trong vạn vật vũ trụ, ghi nhận được bằng ngũ quan "nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân"
─ Chỉ còn mục 6:
“Tất cả những gì còn lại trong vũ trụ vạn vật chưa bao gồm trong 1→5”, sẽ thuộc Mục 6 là “pháp trần” ↔ tương ứng với “ý căn”. Vậy ta sẽ tìm xem Mục 6 bao gồm những gì qua những ví dụ sau:
■ Những ví dụ:
─ Quan sát một chiếc lá cây, tượng trưng cho “sắc trần”:
Mùa Xuân : búp lá non Mùa Hạ : trưởng thành → Mùa Thu : vàng úa → Mùa đông : lìa cành.
Chiếc lá có biến chuyển, thay đổi, chuyển dịch, biến đổi… từ búp lá non tới khi lìa cành và tan biến, ta dùng chữ “biến dịch” cho gọn. Ta cũng có thể dùng chữ “vô thường” để diễn tả sự biến dịch ấy.
Hình ảnh đơn giản của chiếc lá khi ta nhìn ở một thời điểm nào đó là “sắc trần”, nhưng những “biến dịch” của nó (tại sao từ thế này biến thành thế kia?) không gồm trong mục 1 “sắc trần”, nên ta xếp chúng vào mục 6 là “pháp trần”, và với “ý căn” (khả năng suy nghĩ của khối óc), ta tìm cách giải thích các “biến dịch” ấy, bằng cách đặt câu hỏi và tìm câu trả lời. Và “vô thường” cũng là một “pháp trần”, vì sự biến dịch của chiếc là cũng mang ý nghĩa vô thường.
─  Một ly rượu nho mang vị của rượu nho khi nếm, thế nhưng để một thời gian nó lại có vị chua của giấm. Vị cay của rượu, vị chua của giấm chỉ đơn thuần là hai vị riêng biệt như thế tại hai thời điểm khi ta tiếp nhận bằng lưỡi, là “vị trần”; nhưng sự biến đổi từ vị này qua vị kia là “biến dịch” không bao gồm trong mục 4 “vị trần”, nên ta phãi đặt nó vào mục 6 “pháp trần”, và với “ý căn” (khả năng suy nghĩ) tương ứng, ta tìm giải thích lý do của biến dịch ấy.
─ Hôm qua ta nhìn thấy một đống gỗ. Hôm nay, thay vì đống gỗ ta lại thấy cái bàn. Đống gỗ và cái bàn là “sắc trần”, nhưng sự “biến dịch” từ đống gỗ thành cái bàn là “pháp trần”, và chỉ có “khả năng biết suy nghĩ của khối óc” (ý căn) mới giải thích được chuyện đó, là đã có ông thợ mộc với dụng cụ và vật liệu phụ biến đống gỗ thành cái bàn. Khả năng suy nghĩ ấy chỉ có nơi con người.
─ Các màu sắc xanh đỏ tím vàng…. mà con người nhìn thấy là “sắc trần”, nhưng tập hợp của chúng lại là màu trắng, đó là “biến dịch” của các màu, hay “pháp trần”, chỉ có khả năng suy nghĩ (ý căn) của con người mới nhận ra thôi.
─ Có rất nhiều ví dụ đại khái như thế cho các “trần” khác…
─ Lại cũng có những thứ mà ngũ quan không đủ khả năng nhận biết, nhưng nhờ khả năng suy nghĩ, ta hình dung ra được, ví dụ như những tinh tú xa xôi người ta hình dung ra được nhờ một số suy đoán, tính toán và kinh nghiệm (giống như hình thức gọi là  “thiên nhãn” trong đạo Phật, cái nhìn bằng tưởng tượng, không thấy cụ thể nhưng không kém chính xác). Đó cũng là “pháp trần”.
─ Một hình ảnh bên ngoài, khi con người tiếp nhận qua nhãn căn, nhưng sau đó tâm con người lại sinh ra cái tình cảm yêu hay ghét đối với hình ảnh đó. Đó cũng là “pháp trần”. Như vậy tất cả các hiện tượng tâm lý đều là “pháp trần”
■ Tóm lại:
─ Như vậy “pháp” có thể nói là tất cả những thay đổi, biến chuyển, chuyển dịch, biến đổi, biến hóa… gọi tắt là “biến dịch” của “sắc, thanh, hương, vị, xúc” trong vũ trụ vạn vật (những thứ cụ thể được cảm nhận bằng ngũ giác). Và gọi là “sắc pháp”, vì còn một thứ “pháp” khác gọi là "tâm pháp" dưới đây.
─ Ngoài ra còn một thứ trừu tượng, đó là các hiện tượng và biến đổi tâm lý (vui buồn, sướng khổ, ân oán, tham, sân si… và những biến dạng của chúng) phát sinh khi lục căn tiếp nhận lục trần, cũng bao gồm trong vũ trụ (vì con người ở trong vũ trụ, mà tâm lý lại nằm trong con người), nhưng vì không ở trong mục 1→5 nên cũng được liệt vào “pháp trần” mà ta thường nghe nói tới chữ “tâm pháp”.
Đấy là ý nghĩa của chữ “PHÁP” (?) theo suy nghĩ của người viết ─ gồm “sắc pháp” và “tâm pháp” trong Phật giáo. Thực ra thì nghĩa như thế cũng vẫn còn rộng chẳng thua các định nghĩa truyền thống là bao. Nhưng cũng chẳng biết có đúng được phần nào không, thành ra nếu không đúng thì coi như … “viết để mà chơi” thôi!
Duy Đc
(Sep.2008)
 
Home           Top
___
 

 

 

 

 

 



This website is powered by TipTopWebsite.com