Ba Ngôi Tam Bảo
Thiên Chúa Ba Ngôi
--------
V ề ngôn ngữ hai nhóm từ “Ba Ngôi Tam Bảo” trong Phật giáo và “Thiên Chúa Ba Ngôi” trong Ki-tô giáo, có vẻ khá giống nhau. Nhưng còn về mặt ý nghĩa, thử tìm xem có mang nét tương đồng nào không.
1.- Ba Ngôi Tam Bảo.
Thường thì ai muốn chính thức tu theo Phật đều phải quy y tam bảo. Tam bảo là Phật-Pháp-Tăng là ba điều quý báu bậc nhất đối với người Phật tử, người ta dùng chữ “ngôi” đễ diễn tả sự quý báu do so sánh với ý niệm “ngôi báu” của vua trong đời sống dân gian.
Về ý nghĩa hai chữ “quy y” xin lấy giải thích của hòa thượng Thích Thiện Hoa trong bài viết “Quy Y Tam Bảo”:
“Quy là trở về, Y là nương tựa. Quy y là trở về nương tựa (nơi mà mình đã vì si mê phóng lãng, lìa bỏ ra đi, như đứa trẻ khờ dại đã rời bỏ cha mẹ để đi hoang phá, bây giờ biết sự khờ dại do kinh nghiệm khổ đau, quay về nương tựa, dưới bóng hạnh phúc và yêu thương của cha mẹ). Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam Mô của Phạn ngữ. Quy Y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.”
Nơi trở về nương tựa là ba điều qúy báu Phật, Pháp,Tăng.
1.1.- Quy y Phật. Cái đích đến và người chỉ đường.
Qui y Phật là tìm về Phật tánh vốn có của mình, đó là cái đích đến. Đức Phật chỉ là người chỉ đường. Theo đức Phật thì ai cũng có thể thành Phật vì ai cũng có sẵn Phật tánh, nhưng bị che lấp bởi vô lượng phiền não. Phật tánh là tánh giác ngộ, giác ngộ là Niết bàn. Vậy tìm về Phật tánh cũng là tìm về Niết bàn.
Trong kinh Đại Niết Bàn, đức Phật có nói một ví dụ về một cô gái nhà nghèo (tượng trưng cho chúng sanh), trong nhà có kho tàng nhưng không biết (tượng trưng cho Phật tánh nhưng vì vô minh và bị phiền não che lấp, nên không nhận ra), được một vị khách lạ chỉ bảo nên tìm lại được kho tàng (ví dụ cho đức Phật chỉ đường cho chúng sinh tìm Phật tánh của mình), nhưng với điều kiện cô gái phải tự dọn cỏ rác (ngụ ý chúng sinh phải tự tìm về Phật tánh, Phật chỉ là người chỉ đường) . Cô gái thấy kho tàng lòng rất vui mừng lẫn ngạc nhiên, kính trọng người khách (giống như chúng ta khi nghe theo lời chỉ dẫn của đức Phật, thấy được Phật tánh, đem lòng kính phục và nhớ ơn ngài). Câu chuyện giống hình thức dụ ngôn trong Ki-tô giáo. Đây là kết luận của ngài về câu chuyện:
“… Nầy Thiện-nam-tử ! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được. Hôm nay đức Như-Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh. Chúng sanh thấy được tánh nầy lòng rất vui mừng quy ngưỡng Như-Lai."
Người khách khéo biết phương tiện dụ (ví dụ) cho Như-Lai. Cô gái nghèo dụ cho vô lượng chúng sanh. Kho vàng ròng dụ cho Phật tánh .
Phật tánh là tánh giác ngộ vì từ “phật” nghĩa là “giác ngộ”, người tìm lại được Phật tánh của mình là đã giác ngộ, mà giác ngộ là chứng Niết bàn, đức Phật chỉ là người chỉ đường. Trích lời đức Phật trong Trung Bộ Kinh:
“…., này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như lai chỉ là người chỉ đường .”
Trong kinh Kim Cang, đức Phật cũng đã nói rõ, tu theo Phật không phải là tìm tới bên ngài, hay cầu xin ngài một cách mê tín, vì đó là tà đạo:
“Nếu dùng sắc thấy Ta,
Dùng âm thanh cầu Ta,
Là người hành tà đạo,
chẳng thể thấy Như Lai”.
Vậy quy y Phật tức là tự mình tìm về với Phật tánh của mình. Còn với đức Phật, ta tôn kính và nhớ ơn như một vị tôn sư, vì ngài đã chỉ cho thấy Phật tánh đã có và vẫn có trong ta, và chỉ con đường cho ta tìm về Phật tánh. Tôn kính chứ không phải cầu xin, bởi ngài không thể ban phước hay giáng họa.
Thế Phật tánh là gì?
Phật tánh là “tánh không hai” (hay “tâm bất nhị”), như trong câu nói sau đây của đức Phật:
“ Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh.” .
Thế nào là tánh không hai ?
Con người, thường thì ai cũng mang lòng vị kỷ, yêu TA hơn NGƯỜI. Đó là cái tình cảm phân hai, một bên là TA (hơn), một bên là NGƯỜI. Đó là tâm nhị nguyên phân biệt, hay nhị nguyên đối đãi, là “duy ngã độc tôn”.
Khi mang tâm nhị nguyên phân biệt TA/NGƯỜI như thế, sinh ra tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị…. Kế tiếp là phát sinh sự tranh giành, xung đột, âm mưu, thủ đoạn… để rồi có được/mất, hơn/thua, thắng/bại… và kế tiếp nữa là vui/buồn, ân/oán, THIỆN/ÁC, giàu/nghèo, thân/sơ, khinh/trọng…, tất cả đều là nhị nguyên phân biệt, là phiền não, mà đứng đầu là tâm phân biệt TA/NGƯỜI.
Nếu ta loại bỏ được tâm nhị nguyên phân biệt ấy, thì đó là ý nghĩa của “tánh không hai” (hay thâm bất nhị): Lúc đó tâm không phân biệt TA/NGƯỜI (“Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai”, Uẩn và Giới là cách nói khác của TA và NGƯỜI), không THIỆN/không ÁC (“Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, gọi là không hai”), không vui/buồn, không ân/oán, không khinh/trọng… Tánh không hai là Phật tánh, là thoát khỏi phiền não.
Nói dài dòng một chút để chỉ đưa tới một kết luận là: quy y Phật là tìm về lại Phật tánh, tức là tánh không hai. Đó là cái tánh vốn có chung cho mọi con người, chứ chẳng phải chỉ riêng của người theo Phật giáo. Nếu “Tánh không hai” bên Phật giáo gọi là Phật tánh, thì ở một tôn giáo khác nó có thể mang một tên khác, hoặc diễn tả một cách khác. Vi dụ, với Ki-tô giáo, “tánh không hai” chính là hai chữ “Tình Yêu” trong câu “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và Tình Yêu là điều đức Jesus rao giảng,và nằm trong điều răn duy nhất của ngài là “anh em hãy thương yêu nhau”. Chữ Tình Yêu trong Kitô giáo mang ý nghĩa “yêu tha nhân (NGƯỜI) như chính bản thân mình (TA)”, nên cũng chính là “không phân biệt Ta/Người” (không yêu cái TA hơn NGƯỜI khác, hay nói cách khác là “yêu NGƯỜI như chính bản thân TA), nên cũng chính là “tánh không hai” vậy.
1.2.- Qui Y Pháp: Tìm học và hành những lời dạy của đức Phật, tức là Phật Pháp.
Cho dù qua ngôn ngữ có biết Phật tánh là gì, nhưng thực hành để chứng được Phật tánh cũng không phải dễ. Rất may, đối với những người tu theo Phật, đã có người chỉ đường đó là đức Phật. Nay đức Phật tuy không còn nữa, nhưng phương pháp chỉ dạy của ngài vẫn còn đó mà ta gọi là Phật pháp. Do đó muốn tìm lại Phật tánh, người tu Phật phải tìm học những điều Phật dạy trong Phật pháp của ngài để lại, và thực hành theo đó. Đó là quy y PHÁP.
1.3.- Qui Y Tăng: Tìm về những vị Tăng để được hưóng dẫn, để không bị lạc lối.
Chúng sanh thì vô lượng, căn cơ trình độ khác nhau, mà pháp Phật dậy thì mênh mông, chưa chắc mọi người có thể hiểu mà hành đúng, do đó phải cần những bậc đi trước hướng dẫn. Đó là các vị Tăng, hay là các đoàn thể Tăng, Ni tại những tu viện những chùa chiền. Tăng Ni như thày dạy học, còn chùa chiền tu viện là mái trường. Như vậy, nếu muốn không đi lạc trên đường quy y Phật, ta cũng nên tìm thầy là các vị Tăng Ni chân chính để được hướng dẫn trên con đường tu học. Đó là qui y TĂNG.
Sau khi đức Phật thành đạo, đệ tử đầu tiên của ngài là năm anh em Kiều Trần Như. Năm vị sa-môn ấy là Tăng bảo đầu tiên của tam bảo (theo cuốn Phật Giáo của học giả Trần Trọng Kim).
Tuy sắc hình đức Phật không còn nữa, nhưng tinh thần ngài vẫn luôn hiện diện ở cả ba ngôi tam bảo, đó là ý niệm về “tam thân Phật”. Đối với người tu Phật, luôn thấy như ngài vẫn đang hiện diện ở cả ba ngôi. Ngài là tấm gương sáng để người tu Phật noi theo. Sự nhớ ơn và kính trọng ngài thể hiện bằng sự cung kính tôn thờ.
2.- Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tuy là ba ngôi nhưng theo giáo lý “Thiên Chúa Ba Ngôi” thì cũng vẫn chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, hay là “một Thiên Chúa trong ba ngôi vị”. Đó không hẳn chỉ là niềm tin, mà cũng có thể giải thích được phần nào.
Trở lại với câu “Thiên Chúa là tình yêu” : “Tình Yêu” là hai chữ quan trọng bậc nhất trong Thiên Chúa giáo, nó mang nghĩa “yêu tha nhân như chính mình”. Ta có thể hiểu câu nói theo hai cách, tùy theo niềm tin của mỗi người:
-- Nếu bạn tin có Thiên Chúa, thì bạn coi Tình Yêu là bản tính, hay thiên tính của Thiên Chúa. Nếu bạn "yêu tha nhân như chính mình" là Thiên Chúa ở cùng bạn, còn nếu bạn ghét người khác là bạn đã xa rời hay chối bỏ Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa hai chữ Tình yêu trong Ki-tô giáo.
-- Nếu bạn không mang niềm tin có một vị Thiên Chúa, thì bạn có thể hiểu câu nói "Thiên Chúa là Tình Yêu" theo nghĩa đen, coi hai chữ "Thiên Chúa" như là một cách nói khác cũa hai chữ "Tình Yêu". Thiên Chúa và Tình Yêu tuy là hai nhưng bản chất là một, chỉ khác nhau từ ngữ mà thôi, và có thể diễn tả Thiên Chúa = Tình Yêu, hay Thiên Chúa ↔ Tình Yêu, Tình Yêu tức là Thiên Chúa.
Như vậy, ngoài Thiên Chúa chính là Tình Yêu, đức Jesus là người mang Tình Yêu như thế trong tâm nên ngài cũng chính là Thiên Chúa; và những vị khác khi đã mang được Tình Yêu chân chính như thế đều ở một ngôi vị như Thiên Chúa, và được tôn bậc Thánh. Tất cả ba ngôi vị đều mang thiên tính Tình Yêu, nên cùng là một Thiên Chúa. Tình Yêu là sự kết nối giữa ba ngôi vị và còn được biết dưới các từ ngữ khác như Thiên tính, Thần khí, Thánh linh, Thần linh; và những ai đã đạt được Tình Yêu chân chính được coi như nên một với Thiên Chúa.
2.1.- Thiên Chúa là Ngôi vị thứ nhất.
Vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” nên ta cũng hiểu một cách khác là chính “Tình Yêu” là ngôi vị thứ nhất. Ta tìm tới Thiên Chúa hay nước Trời là cùng nghĩa với ta tìm tới Tình Yêu. Hai chữ “Tình Yêu” này mang nghĩa “yêu tha nhân như yêu chính mình”
“Yêu tha nhân như yêu chính mình” cũng mang ý nghĩa của tâm “không phân biệt TA/NGƯỜI” (không yêu TA hơn NGƯỜI khác, mà đổi lại là yêu NGƯỜI như yêu chính TA). Đó cũng chính là “tánh không hai” hay là Phật tánh nói trong Phật giáo.
Như vậy “Tình Yêu” là cái đích đến mà người Thiên Chúa giáo tìm tới trên con đường tu đức. Đến được với TìnhYêu là đến được với Thiên Chúa hay nước Trời.
2.2.- Đức Jesus là Ngôi vị thứ hai.
Chính đức Jesus cũng là Thiên Chúa vì trong tâm ngài “Tình Yêu” ngự trị. Đó là Ngôi Hai.
Suốt thời gian giảng đạo, ngài giảng về hai chữ Tình Yêu, và làm thế nào để tìm được Tình Yêu đó, để nhân loại yêu thương nhau như anh em, như điều răn của ngài trong bữa tiệc ly “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu anh em”.
Nếu mọi người đều theo được điều răn của ngài, thực sự yêu thương nhau như anh em thì con người thoát khỏi tranh giành, chém giết lẫn nhau: Đó là bình an, là hoà bình, là hạnh phúc. Đó là "con đường, là sự thật, là sự sống". Đó là ý nghĩa của ba chữ “chúa cứu thế” mà chúng ta đã trân trọng dành cho ngài, một con người đã hy sinh cả mạng sống của mình, chỉ vì theo đuổi mục đích đem hai chữ Tình Yêu đến cho mọi người. Có Tình Yêu là "yêu Người như chính bản thân mình" là có bình an, hòa bình, hạnh phúc: đây là con đường duy nhất, là sự thật, để mang lại sự sống, sống bình an,hoà bình, hạnh phúc vĩnh viễn.
2.3.- Thánh Thần là Ngôi vị thứ ba.
Những người thât sự hiểu và mang hai chữ Tình Yêu chân thực trong tim mình, thì chính người ấy đã "nên một" với Thiên Chúa, hay nói cách khác chính người ấy cũng là Thiên Chúa (ở ngôi vị thứ ba), vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Đó là các vị Thánh. Đó là chúa Thánh Thần, chính là ngôi thứ ba của Thiên Chúa Ba Ngôi vậy.
Chúa Thánh Thần lại tiếp tục sứ mệnh của chúa Jesus truyền bá Tình Yêu tới cho mọi người, như một vị thầy đầy lòng thương yêu, nhân ái. Cho nên chúa Thánh Thần còn được hiểu như là Đấng bảo trợ, Đấng dậy dỗ, Đấng cứu giúp, bậc tôn sư dẫn dắt tín hữu tìm về hai chữ "Tình Yêu", như lời đức Jesus:
"Đấng bảo trợ, là Thánh Thần, Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta nói với các ngươi."(Ga.14:26).
Tình Yêu vốn đã có sẵn trong mỗi người (1), nên ai cũng có thể nên Thánh, cũng như ai cũng có Phật tánh, nên ai cũng có thể thành Phật vậy.
3.- Tóm lại:
Cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều có sự hiện diện của Tình Yêu. Tình Yêu hiện diện cũng là Thiên Chúa hiện diện, vì thế tuy Ba Ngôi nhưng là một Thiên Chúa duy nhất, hay Một Thiên Chúa trong ba ngôi vị. Và Thiên Chúa ba ngôi, cùng Ba Ngôi Tam Bảo Phật giáo, về hình thức và cả ý nghĩa có những nét rất là gần nhau./.
Duy Đức
(Dec-2008)
(1) Đức Jesus là Ngôi Hai, còn được gọi là Ngôi Lời.
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa,
Và Ngôi Lời là Thiên Chúa (Ga 1:1)
"Ngôi Lời là Thiên Chúa" nên Ngôi Lời cũng là Tình Yêu, vì "Thiên Chúa là Tình Yêu".
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, cũng có nghĩa là Tình Yêu cũng đã có sẵn nơi con người từ lúc khởi đầu, cũng như Phật tánh đã có sẵn trong mỗi con người từ ban đầu, nhưng bị khuất lấp bởi vô minh và phiền não.
|