-----
Chư hành vô thường,
Chư hành thị khổ,
Chư pháp vô ngã.
Ba câu này được biết là Tam Pháp Ấn trong Phật giáo, cũng có khi rút gọn lại là “Vô thường, Khổ, Vô ngã”.
“Vô thường” thì khá rõ ràng, mọi sự mọi vật trong trời đất đều luôn luôn thay đổi, chuyển dịch, biến thiên, còn rồi mất, có rồi không, là sự tự nhiên, ví dụ một nụ hoa nở thành bông hoa tươi thắm, rồi cánh hoa khô héo dần và rơi rụng là điều ai cũng biết là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên biết rồi để đấy, hay biết một cách sâu sắc để áp dụng vào đời sống của mình lại tùy theo mỗi người.
VÔ THƯỜNG
Với “Khổ”, thì trong cuộc đời mỗi người ai cũng gặp, được-mất, khổ-vui, vui-khổ cứ thay nhau xuất hiện trong đời sống con người, cũng nằm trong lý vô thường. Ta cũng có thể hiểu sâu sắc hơn nếu đọc và suy nghĩ về “tứ diệu đế”, là một trong những bài giảng đầu tiên của đức Phật sau khi thành đạo.
Riêng “Vô ngã” thì có lẽ… khó hiểu hơn cả, và có khi được hiểu với nghĩa khác nhau, vì vậy “tam pháp ấn” cũng còn được biết tới bằng những câu văn khác, ví dụ:
Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết bàn tĩnh tịch.
Thế nên “thầy bàn” xin bàn về hai chữ “vô ngã” trước. Nói về “vô ngã” cũng là nói về “ngã”, vì “có ngã” mới có “vô ngã”.
1.- NGÃ và VÔ NGÃ.
1.1.- CHÂN NGÃ là PHẬT TÁNH.
Một vị vương tử kia có một người nô bộc thân tín. Vì rất tín cẩn, nên vị vương tử không ngại cho ông ta biết mình nắm giữ một con dao qúy, vốn là bảo vật trong kho của nhà vua. Quan dân ai cũng có nghe về con dao ấy nhưng chẳng ai thấy tận mắt. Người nô bộc được thấy, rất thích và mơ ước được con dao qúy ấy.
Một ngày kia, vị vương tử bỏ trốn qua nước khác, mang theo con dao ấy, còn người nô bộc ở lại và cư ngụ nhờ nhà một người khác. Có một đêm, nhớ tới báu vật đáng mơ ước là con dao kia, trong cơn mơ người nô bộc ấy nói: “Con dao! Con dao!”. Người chủ nhà nghe được, bắt ông ta và giao nộp cho nhà vua.
Nhà vua hỏi người nô bộc của vị vương tử:
─ Ngươi nói có con dao, vậy thì hãy trình bày cho ta rõ con dao ở đâu?.
Người nô bộc đem mọi việc tâu bày đầy đủ và nói thêm:
─ Đại vương nay dù có giết thần để tìm lại con dao ấy cũng chẳng được. Là nô bộc, nên tuy mắt có thấy nhưng còn chưa dám nhìn cho rõ, cũng chẳng dám đụng tay tới, huống hồ là lấy nó làm của mình.
Nhà vua gạn họi:
─ Nhà ngươi nói thấy con dao ấy, vậy hình dáng nó ra sao, hãy tả lại cho ta nghe.
Thưa rằng:
─ Tâu đại vương, thần thấy con dao qúy ấy giống như sừng dê đen.
Nhà vua thấy người ấy mô tả lại con dao như thế, bèn cả cười mà rằng:
─ Trong kho tàng của ta không hề có con dao như thế, làm sao mà ngươi nói tận mắt thấy nơi vương tử ấy. Vậy ta cho ngươi được tư do, đi đâu tùy ý, chớ sinh lòng lo sợ!
Chẳng bao lâu sau, vua băng hà. Triều thần lập thế tử lên kế vị. Một hôm, tân vương trở lại với câu chuyện con dao qúy, và hỏi quần thần xem có ai đã từng thấy con dao như thế. Các quan cùng tâu rằng:
─ Chúng thần đã từng thấy! Hình dạng nó giống như sừng dê đen.
Nhà vua nói:
─ Trong kho tàng của ta, có chỗ nào mà có thứ dao hình dạng như vậy đâu?!
Rồi lần lượt bốn vị vua kế tiếp cũng chẳng tìm ra được con dao qúy ấy. Sau này, vị vương tử đào tẩu trở về nước, được tôn lên ngôi vua. Tân vương lại đưa câu chuyện con dao qúy ra hỏi quần thần xem có ai đã từng thấy con dao ấy. Mọi người đều trả lời là đã từng thấy. Nhà vua lại hỏi rằng:
─ Các người nói thấy, vậy hình trạng nó thế nào?
Các quan lần lượt trình bày hình dạng con dao, người thì nói rằng sắc dao thanh tịnh như… hoa Ưu-bát-la, người thì nói nó như… sừng dê, có người lại đáp rằng con dao… sắc đỏ hồng như đám lửa, lại có người quả quyết nó giống như… con rắn đen!
Nghe vậy, nhà vua cả cười mà rằng:
─ Các khanh đều chẳng thấy hình dáng chân thật của con dao của ta!
Đấy là câu chuyện giống hình thức “dụ ngôn”, do đức Phật kể, trong kinh Đại Niết Bàn, khi Bồ tát Ca Diếp xin ngài giải thích rõ về “ngã” và “vô ngã”. Kể tới đây ngài kết luận:
“Này thiện nam tử! Bồ tát xuất hiện nơi đời nói tướng chân thật của ngã cũng như vậy. Nói xong bỏ đi, như vị vương tử mang con dao qúy trốn qua nước khác.
Người phàm phu ngu mê cho rằng có cái ngã (nào đó), nên nói rằng “Có ngã! có ngã!”, giống như người nô bộc kia nói mơ “Con dao! Con dao!” vậy. Hàng Thanh văn, Duyên giác hỏi các chúng sanh về tướng của ngã như thế nào, thì được đáp rằng : “Tôi thấy tướng của ngã lớn bằng ngón tay cái”, có kẻ nói “như hạt gạo”, có kẻ nói “như hột cỏ”, lại có kẻ nói “tướng của ngã ở trong tâm sáng rỡ như mặt trời”.
Những chúng sanh chẳng biết tướng của ngã, như các quan chẳng biết tướng con dao.
Bồ tát nói tướng trạng của ngã, hàng phàm phu chẳng rõ biết, vọng tưởng ra các hình tướng của ngã , như những người nói hình dáng con dao giống như sừng dê v.v…
Các hạng phàm phu ấy, tuần tự nối nhau mà sanh tà kiến.
Để dứt những tà kiến đó, nên Như lai thị hiện, nói vô ngã, ví như vị vương tử kia nói với quần thần “trong kho tàng của ta không có con dao như vậy!”
Này thiện nam tử! hôm nay Như Lai nói ngã chân thật gọi là Phật tánh. Phật tánh như vậy ở trong Phật pháp của ta, như con dao qúy kia.”
Càng lâu câu chuyện về con dao qúy càng... mơ hồ, càng tam sao thất bổn. Rồi ngã và vô ngã cũng vậy, ngã đã mơ hồ thì vô ngã cũng chẳng rõ hơn. Tìm đọc một số bài viết về ngã và vô ngã bây giờ, thì chắc bạn cũng thấy y như lời đức Phật đã nhận xét: “người thì nói tướng của ngã lớn bằng… ngón tay cái, người thì nói như… hạt gạo, người thì nói như… hột cỏ, kẻ thì nói tướng của ngã … sáng rỡ như mặt trời vậy”.
Thế vô ngã là gì ? Người viết xin góp thêm một vài… hạt đậu đen, đậu đỏ… vào cái kho “ngã và vô ngã” này.
Như lời của đức Phật trong câu chuyện kể trên, ngài dùng chữ “ngã” để chỉ cái Phật tánh của chúng sanh, nhưng ngài kèm thêm tính từ “chân thật” (ngã chân thật, hay chân ngã) để không lầm lẫn với “vọng ngã” khác: ─ ngã chân thật gọi là Phật tánh. Cho nên chữ “vô ngã” không dùng như là một vị trí đối nghịch với chữ “ngã” này, và “ngã chân thật” hay “chân ngã” mang cùng một nghĩa với chân tâm, bản tâm, chân như, bản tâm thanh tịnh, tự tánh… là Phật tánh. Đức Phật nói vô ngã để dứt những tà kiến của chúng sinh về cái ngã chân thật mà ngài gọi là Phật tánh.
1.2.- NGÃ và VÔ NGÃ về THÂN và TÂM.
Khi đức Phật nói “ngã chân thật là Phật tánh” thì không có “vô ngã” như một vị thế đối đãi với "chân ngã", thế nhưng khi nói về những khía cạnh khác, thì ngài vẫn dùng chữ “ngã “ như là một nguyên nhân của phiền não và “vô ngã” là phương cách để loại trừ phiền não ấy. Trong trường hợp này ngã và vô ngã là gì?
NGÃ là TA được hiểu theo hai khía cạnh “ngã về thân” và “ngã về tâm”.
(1) “Ngã” là cái thân xác TA, (gồm thân tứ đại và lục căn), đó là cái “ngã về thân”. Cái thân xác con người vô thường… sinh, trụ, hoại, diệt… có đó rồi không đó, không đó rồi có đó, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc :
Khoảnh trời đất: cổ- kim, kim-cổ,
mảnh hình hài: không-có, có-không…
Nếu nhận định được rằng cái thân xác này thoáng có rồi thoáng mất như vậy thì có đáng gì cho ta phải điên đầu khổ sở vì nó?
Do đó hình thành ý niệm “vô ngã”, ở đây là “vô ngã về thân”, để khuyến khích ta bỏ bớt các hành động chỉ lo phục vụ cho cái thân xác tạm bợ vô thường ấy: đó là bỏ bớt tham ăn, tham mặc, tham chơi, mê đắm thoả mãn các thú vui thân xác, hoặc giận hờn, kiêu mạn, ganh tị… vì cái thân xác ấy.
Ý niệm “vô ngã” này cùng nằm trong luật vô thường chung của vũ trụ vạn vật, thành ra nói “vô ngã” chỉ là để nhấn mạnh thêm về việc đưa lý vô thường vào đời sống, để sửa bản thân mình. Đó là: cái thân xác này nay còn mai mất, ngắn ngủi như một giác mộng thấy đó rồi mất đó, có đó rồi không đó..., có đáng chi để mà phải tranh đua, phải khổ đau vì nó.
Đây là sự đối phó chỉ với chính bản thân ta. Và bên cạnh đó là một ý niệm khác về "ngã" còn hiểm nguy hơn phát sinh từ sự đối nghịch giữa TA và NGƯỜI khác, xin được giải thích như dưới đây.
(2) “Ngã” là cái TA (cái TÔI), đại danh từ, chính là chữ “ngã” trong câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, --> từ trên tầng trời kia xuống tới gầm trời này (con người ta, ai cũng tự cho rằng) chỉ có TA là đáng tôn qúy hơn cả. --> Có TA thì có NGƯỜI (phân biệt Ta/Người), và TA thì luôn là độc tôn, hơn NGƯỜI. Đây là cái “ngã về tâm”, vì là cái tình cảm “yêu mình hơn người khác”. Đó là cái tâm lý chung thường thấy ở hầu hết mọi con người, rất nguy hại, là ai cũng tự cho mình (TA) là đáng tôn qúy hơn NGƯỜI khác (hay nói rộng hơn là chúng sinh).
Đây là tâm nhị nguyên, cái nhìn phân hai một bên là TA (hơn) và bên kia là NGƯỜI. Nói một cách khác, đó chính là “tâm phân biệt TA/NGƯỜI” là nguyên nhân của “tham, sân, kiêu mạn, ganh tị”. Điều này cũng dễ giải thích: Vì ai cũng tự cho mình là hay, là đúng, là hợp lý, là nhất, là hơn, là được ưu tiên, …v.v…nên muốn thâu tóm những cái hơn về Ta (đó là tâm Tham);
khi nguời khác đụng chạm tới quyền lợi, phê bình hay phỉ báng Ta, ta tức tối, tìm cách trả đũa (đó là tâm Sân); khi thấy mình hơn người thì khinh khi kẻ khác (đó là Kiêu mạn); thấy người khác hơn mình thì tức tối ghen ghét (đó là lòng ganh tị). Khi có lòng tham, sân, kiêu mạn, và ganh tị thì sẽ sinh tranh giành, để rồi hơn/thua, được/mất, sau đó hậu qủa tất nhiên là sầu khổ và phiền não.
Bởi tham, sân, kiêu mạn, ganh tị là nguyên nhân của phiền não, nên đức Phật dậy “đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, gọi là Niết bàn”. Để đoạn tận được “tham, sân, si” ta phải đoạn cái nhân của nó là “tâm phân biệt TA/NGƯỜI”; ở đây có thêm chữ “si” mang nghĩa “mê đắm”, và “ngu si” vì không học hỏi để hiểu rõ lối đi.
Thế “vô ngã” nó nằm ở đâu, và nghĩa lý ra sao?
NGÃ ← VÔ NGÃ → NHÂN
"VÔ NGÃ" ở vị trí giữa Nhân và Ngã, không bên nào hơn bên nào kém, yêu NGƯỜI như yêu TA. Vô Ngã là bình đẳng giữa Người và Ta. Cách giải nghĩa phổ thông và dễ hiểu hơn là: "vô ngã" là "không vị kỷ" mà là sống "vị tha".
─ Khi còn mang tâm “phân biệt TA/NGƯỜI”, là lúc cái NGÃ (TA) còn to lớn nổi bật so với NGƯỜI khác. Đó là do tình cảm nơi tâm con người còn phân hai, là nhị nguyên, một bên là TA một bên là NGƯỜI, mà ưu tiên là thuộc về TA. Đó là nguyên nhân sâu xa của phiền não.
─ Khi ta đã bỏ được cái “tâm phân biệt TA/NGƯỜI”, lúc đó TA = NGƯỜI, ta yêu cái TA như thế nào thì yêu NGƯỜI như thế ấy, là “yêu tha nhân như yêu chính mình”, "những gì anh em muốn người làm cho mình thì chính anh em cũng làm cho người", hay "muốn người không làm điều gì đó với ta, thì ta cũng đừng làm điều đó với người" (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Đó chính là “vô ngã”.
Như vậy:
■ “Vô ngã” là vị trí đứng giữa “Ngã” và “Nhân”, không ngả về bên nào cả, là không “nhị biên” hay không "biên kiến" hay không "nhị nguyên".
■ Đứng giữa Ngã và Nhân, nên “vô ngã” cũng mang nghĩa “trung đạo” (là con đường giữa): không thiên về bên nào cả.
■ Ở vị trí giữa Ngã và Nhân, nên “vô ngã” cũng là “tánh không hai” hay “tâm bất nhị”: không ngả về bên nào cả nên gọi là không hai (cũng là không nhị nguyên)
Và tóm lại : vô ngã = trung đạo = tánh không hai, mà tánh không hai là Phật tánh, cho nên “Vô ngã” cũng chính là Phật tánh.
Như vậy, tìm về "vô ngã" là để phá sự "chấp ngã vể thân và về tâm":
─ Cái thân TA (thân năm uẩn), theo lý vô thường, nay còn mai mất, có đó rồi không đó, ngắn ngủi tựa như giấc mộng, như bóng câu qua cửa..., chẳng đáng gì để phải điền đầu khổ sở vì nó.
─ Loại bỏ cái tâm phân biệt TA (hơn) NGƯỜI, không còn cho TA là độc tôn, tức là loại bỏ nguyên nhân của tham sân si, (tham sân si đưa tới tranh giành, hơn thua, âm mưu thủ đoạn,..., sinh ra được mất, hơn thua, thiện ác, ân oán,..., là những đau khổ, phiền não cho chính mình và cho người khác). Đức Phật nói: "đồng nghĩa với Niết bàn là nhiếp phục tham, sân,si". Bỏ tham sân si cũng là loại bỏ lòng vị kỷ mà sống vị tha, hoà đồng với mọi người, không cao không thấp, không hơn không kém, bình đẳng hoàn toàn... không còn mang cái ý niện rằng có cái TA riêng rẽ to lớn hơn NGƯỜI. Đó là "vô ngã" (không vị kỷ).
2.- TAM PHÁP ẤN.
“Chư hành vô thường,Chư hành thị khổ, Chư pháp vô ngã”
Theo kiểu phân tích “chữ nghĩa” như trên, thì tam pháp ấn có vẻ đơn giản một chút. Xin diễn nghĩa như sau:
─ Mọi thứ có trong vũ trụ đều luôn có sự vận hành thay đổi, chuyển dịch, biến thiên… có-không, không-có, nay còn mai mất, có đó rồi không đó..., không ngoại trừ một ai một cái gì một điều gì cả… Đây là lẽ tự nhiên, là lý vô thường: ─ Đó là “chư hành vô thường”
─ Vì chấp ngã, luôn coi cái TA là hơn hết, nên con người luôn tìm cách thâu tóm mọi cái hơn về TA. Nhưng với lý vô thường bao trùm vạn vật, thì mọi sự mọi vật có đó rồi mất đó, kể cả thân xác của TA. Sự mất mát sẽ gây đau buồn, và cái mất lớn nhất, mất tất cả là sự chết. Như vậy “chư hành vô thường” biến thành “Chư hành là khổ”
─ Nguyên nhân đau khổ là "vô thường" và "chấp ngã" tức là cho rằng cái TA là hơn hết. Vô thường là lẽ tự nhiên chỉ vận dụng được vào đời sống một cách hợp lý, chứ không thể loại trừ, nên chỉ còn chấp ngã. Để loại trừ cái khổ, đức Phật dậy ta những phương pháp bỏ đi sự chấp ngã, cũng là trở về “vô ngã”.
Tất cả các lời dạy của ngài được gọi là Phật pháp chỉ nhằm đưa ta trở về với tâm “Vô Ngã”, cũng là “tánh không hai” là “không phân biệt TA/NGƯỜI”, là Phật tánh, là Niết bàn: ─ Đó là “Chư pháp vô ngã” (nghĩa là : tất cả các pháp Phật dạy đều hướng về cái đích "vô ngã").
Trở về tâm “không phân biệt TA/NGƯỜI” là thương yêu mọi NGƯỜI như chính bản thân TA, không còn tranh giành hơn/thua, được/mất, hoàn toàn bình đẳng, không cao không thấp, là hoàn toàn giác ngộ. Đó là ý nghĩa của Phật qủa “Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác”
(1) vậy ./.
Duy Đức
(Feb-2009)
----------------
(1) Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, là pháp Phật và cũng là Phật qủa:
▪ Vô thượng: không cao không thấp, (đó là tâm bất nhị, cũng là tâm vô phân biệt)
▪ Chánh đẳng: hoàn toàn bình đẳng, (hoàn toàn như nhau, đó là tâm vô phân biệt).
▪ Chánh giác: hoàn toàn giác ngộ.
Như vậy, người hoàn toàn giác ngộ là người không còn mang tâm phân biệt, là tâm bất nhị. Sau đây là lời đức Phật trích trong kinh Kim Cương: "Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà tu hết thảy các pháp lành, tức thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác"
___