HAI CON ĐƯỜNG, MỘT ĐIỂM ĐẾN.
(Mười điều răn - Ngũ giới)

Trang    (1)  (2)
Cùng đến một điểm hẹn… mà có hơn một con đường thì con người có nhiều lựa chọn, và cuộc hành trình hẳn được phong phú hơn. Trong bài này người viết bạo gan thử tìm xem có chăng một “điểm đến” chung  cho hai tôn giáo lớn là Ki-tô giáo và Phật giáo.
Đầu tiên, xin đề cập một số từ ngữ:
 “Tâm nhị nguyên” (1)  là tình cảm bị phân hai bên đối nghịch (nên còn được gọi là “nhị nguyên đối đãi”): Ta/Người, yêu/ghét, thiện/ác, hơn/thua, hoan hỉ/sầu muộn, ân/oán, khen/chê, hạnh phúc/khổ đau…, đây là tâm của người đời thường (phàm phu), thường bị những đối nghịch ấy làm cho dao động, gọi là phiền não.

 “Tâm phân biệt”  (1)  là một cách nói khác của "tâm nhị nguyên" : phân biệt Ta/Người, phân biệt yêu/ghét, phân biệt thiện/ác, phân biệt hơn/thua, phân biệt vui/buồn, phân biệt ân/oán, phân biệt khinh/trọng,... trong đó phân biêt TA/NGƯỜI (yêu TA hơn yêu NGƯỜI) hay nói gọn là "chấp ngã", hay "nhân-ngã", là nguyên nhân chính sinh ra các "phân biệt nhị nguyên" khác. Tâm phân biệt TA/NGƯỜI là gốc gác của tội ác, đau khổ, phiền não, sẽ được giải thích thêm dưới đây.    

“Tánh không hai” hay “tâm bất nhị”, là nhóm từ dùng trong Phật giáo, mang ý nghĩa  nghịch lại với "tâm nhị nguyên phân biệt" để chỉ cái tâm một người (thường là những bậc đã tu hành đạt đạo) không còn bị dao động giữa hai trạng thái đối nghịch (nhị nguyên) như được/mất, hơn/thua, thắng/bại, khen/chê, hoan hỉ/sầu muộn, ân/oán, thiện/ác, bạn/thù,…"Tánh không hai" = "Tâm không phân biệt". “Tánh không hai” là Phật tánh, theo lời đức Phật trong câu kinh sau đây:
“…  Một là thường hai là vô thường, còn Phật tánh chẳng phải thường chẳng phải vô thường nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh”.
Ở các ví dụ trong câu kinh này:
 ─ thường/vô thường ─ thiện/bất thiện (ác) ─ uẩn/giới (2) (“uẩn” ý nói là TA, “giới” là thế giới bên ngoài ta, nghĩa hẹp hơn là NGƯỜI khác):  là nhị nguyên, là cái tâm phân biệt của phàm phu.
─ chẳng phải thường / chẳng phải vô thường ─ chẳng phải thiện / chẳng phải bất thiện ─ chẳng phải uẩn / chẳng phải giới: là “tánh không hai” hay “tâm không phân biệt”. Đó thường là tâm của các vị đã giác ngộ (đã tìm được Phật tánh), không còn bị dao động giữa hai trạng thái đối nghịch nhị nguyên nữa.
Thêm một ví dụ ở câu nói dưới đây về tánh không hai: không hoan hỉ / không sâu muộn. Đức Phật là bậc giác ngộ, không còn bị dao động với hoan hỉ hay sầu muộn nữa:
Hoan hỉ chỉ đến với người tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người tâm hoan hỉ.  Không sầu muộn, không hoan hỉ, tâm ta không dao động(được bình an, tự tại)
1.- Từ Điểm  Khởi Đầu: Ta hãy tìm hiểu nguyên nhân của đau khổ, tội ác và phiền não, để rồi từ đó xuất hiện tôn giáo với mục đích giải thoát tội ác, đau khổ và phiền não.
Về hình thức,  Phật giáo và Ki-tô giáo có vẻ khác nhau, nhưng xét kỹ về nội dung lại có những điều giống nhau: đó là sự nhận định nguyên nhân đau khổ, tội ác, và phiền não của con người.
1.1.- Khởi đầu của Phật giáo:  tâm nhị nguyên “phân biệt Ta/Người” hay “duy ngã độc tôn”: nguồn gốc phiền não.
“Thiên thượng Thiên hạ, duy ngã độc tôn là câu nói đầu tiên trong đời của đức Phật, nói lên cái tâm lý muôn đời của con người là ai cũng cho rằng (hay muốn rằng) cái TA là quan trọng hơn so với NGƯỜI khác. Nếu tự xét ở chính mình, hoặc quan sát người chung quanh, chúng ta đều thấy sự thực như thế. Nói cách khác, “duy ngã độc tôn” là “yêu TA hơn NGƯỜI”, là cái nhìn phân hai, một bên là TA bên kia là NGƯỜI, bên nặng bên nhẹ: đó là tâm nhị nguyên “phân biệt TA/NGƯỜI”.
Duy ngã độc tôn = phân biệt TA/NGƯỜI (TA hơn NGƯỜI)
(tâm nhị nguyên)
Đây là nguyên nhân sâu xa của cái ÁC, và mọi đau khổ phiền não, theo liên hệ nhân và quả sau đây:
─ Khi tự cho rằng (hay muốn rằng) TA hơn NGƯỜI :
(1) Ta muốn giành những cái gì hơn về mình đó là THAM;
(2) người khác giành được phần hơn, hay chê bai phê bình chỉ trích ta, ta giận tìm cách trả đũa đó là SÂN;
(3) ta hơn người thì sinh KIÊU MẠN, khiến người khác ganh ghét tìm cách lôi mình xuống;
(4) người hơn ta thì ta GANH TỊ, tìm cách hạ người xuống.
 
(Thường có thêm chữ SI đi kèm theo THAM, SÂN, gọi là tam độc tham-sân-si. SI có hai nghĩa: 1/ một ở TÂM là đam mê, tham ái, trói buộc mình vào một hay những trần cảnh bên ngoài để rồi muốn chiếm lĩnh lấy; 2/ một ở TRÍ, nghĩa là ngu si, không nhận ra đường đi.)
─ Lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị đưa tới… tranh giành, xung đột, chiến tranh…
─ Khi tranh giành, xung đột,...  thì có âm mưu, thủ đoạn để hạ đối phương, để giành phần thắng. Từ đó sinh ra tâm ý ÁC, đưa tới hành động ÁC và lời nói ÁC. Đó là sự hình thành cái ÁC. Khi có ÁC thì sinh ý niệm THIỆN đi kèm thành một cặp nhị nguyên “phân biệt THIỆN/ÁC”
─ Kết qủa của tranh giành, xung đột... là được/mất, hơn/thua, thắng/bại… đây  là một lớp nhị nguyên phân biệt thứ hai.
─ Được/mất, hơn/thua, thắng/bai… sinh ra vui/buồn, ân/oán, hạnh phúc/đau khổ, bạn/thù, khen/chê… là lớp nhị nguyên phân biệt kế tiếp.
─ “Được” thì “vui”, nhưng với lý vô thường thì cái “được” rồi cũng sẽ “mất”, và cái mất lớn nhất và mất tất cả là cái chết, mà "mất" thì buồn, không… tránh được! Và cứ thế buồn-vui, vui-buồn, yêu-ghét, ân-oán… đeo đuổi con người : Đó là phiền não.
Tóm lại:
Tâm Phân Biệt (nhị nguyên) (3) 
(Phân biệt TA/NGƯỜI)
(Duy Ngã Độc Tôn)
Tham, sân , kiêu mạn, ganh tị
Tranh giành, xung đột, mưu mô, thủ đoạn
được/mất, hơn/thua, thắng/bại, thiện/ ác (nhị nguyên)
vui/buồn, thương/ghét, ân/oán, giàu/nghèo, thân/sơ, khinh trọng … (nhị nguyên)

Xin tóm tắt một nét căn bản sau đây:
─ Một người mang “tâm phân biệt THIỆN/ÁC” là vì đã và đang mang “tâm phân biệt TA/NGƯỜI” hay "Duy ngã độc tôn".
─ Nếu bằng cách nào đó mà bỏ được “tâm phân biệt TA/NGƯỜI” thì tâm phân biệt Thiện/Ác cũng không còn, và  “tâm nhị nguyên” trở thành “tâm bất nhị”
Ở đây xin đặc biệt lưu tâm tới cặp nhị nguyên “phân biệt THIỆN/ÁC”, vì có điểm tương đồng với “trái cây biết phân biệt THIỆN/ÁC” trong sách Khởi Nguyên (Sáng Thế Ký) của Kinh Thánh cựu ước, sẽ nói tới dưới đây.
1.2.- Khi đu của Ki-tô giáo:  "tâm phân biệt Thiện/Ác" hay "tâm phân biệt TA/NGƯỜI", nguồn gốc của tội lỗi.
Trong sách Sáng Thế Ký, ông Adam và bà Eve là tổ tông của loài người, tượng trưng cho con người đầu tiên. Khởi đầu, tâm ông Adam hẳn là đơn sơ, không vướng mắc những nhị nguyên vui/buồn, sướng/khổ, yêu/ghét, ta/người… và chắc chắn là chưa có tâm ÁC, nên cũng chưa có ý niệm về cái THIỆN, do đó mà không có phân biệt THIỆN/ÁC . Đó là “tâm bất nhị”, là “bản tâm”, cái tâm vốn có từ ban đầu của của ông Adam. Cho đến khi bà Eve và ông Adam bị cám dỗ mà ăn trái cây “biết phân biệt thiện/ác” thì cái bản tâm đó biến đổi.
Sau khi ăn trái cấm, tâm ông Adam chuyển từ “không phân biệt THIỆN/ÁC” (bất nhị) thành  “biết phân biệt THIỆN ÁC” (nhị nguyên), tức là đã mang tâm “phân biệt TA/NGƯỜI” (vì có phân biệt TA/NGƯỜI mới sinh cái ÁC). Đây là nguồn gốc của tội ác, của đau khổ, phiền não. Tâm phân biệt TA/NGƯỜI từ đó lây truyền cho hậu duệ cho tới ngày nay. Cho nên trong Ki-tô giáo ta thường nghe nói ai ai cũng mang tội lỗi (4)  (đúng hơn là cái mầm mống của tội lỗi).
Cho dù vô tình hay cố ý, thì ông Adam và bà Eve cũng là người khởi đầu gây ra tâm nhị nguyên “phân biệt TA/NGƯỜI” (mà trước đó hai vị không có), cái gốc tội lỗi của loài người. Vì thế mà  hai ông bà đã phải mang nặng trên vai… “tội tổ tông” cho đến muôn đời hay ít nhất cũng tới khi cái ác được loại bỏ. Và chúa Jesus giáng sinh để gỡ bỏ cái tội tổ tông ấy, bằng sự rao giảng hai chữ Tình Yêu, tức là dạy con người hãy “yêu tha nhân như chính bản thân mình” hay đừng “phân biệt TA/NGƯỜI” nữa. Chỉ có yêu NGƯỜI như yêu TA thì mới loại bỏ được cái ác, và tội lỗi, và khi ấy "tội tổ tông" mới được gỡ bỏ khỏi vai ông Adam và bà Eve.
Câu chuyện chỉ có tích cách tượng trưng, để nói tới nguyên nhân của tội lỗi là do “tâm nhị nguyên phân biệt TA/NGƯỜI”. Cũng nói về cái nguyên nhân ấy, trong Phật giáo diễn tả bằng câu “Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn”, mang cùng ý nghĩa. Như vậy:
Duy ngã độc tôn = tâm phân biệt TA/NGƯỜI (tâm nhị nguyên)
là nguồn gốc của tội ác, đau khổ, phiền muộn.
Từ đây ta thấy ngay là muốn loại trừ tội ác, đau khổ, phiền muộn, ta phải trở lại “tâm bất nhị” không phân biệt TA/NGƯỜI. Đó chính là cái "đích đến" chung của Ki-tô giáo cũng như Phật giáo, sẽ đề cập dưới đây.
2.- Cái "Đích Đến” chung của hai Tôn Giáo.
2.1.- Đích Đến của Phật Giáo: là Phật tánh hay “tánh không hai” (tâm bất nhị).
Đích đến của Phật giáo là Phật tánh, và theo lời đức Phật, Phật tánh là “tánh không hai” (tâm bất nhị), nên cái đích đến cũng là “tánh không hai””, xin nhắc lại đoạn kinh:
 “…Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai…., tánh không hai là Phật tánh
Khi có “tâm không phân biệt TA/NGƯỜI” (yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA), thì không có Ác. Khi không có Ác thì cũng không có THIỆN. Trong câu kinh, đức Phật nói: “không thiện/không ác” là tánh không hai, là Phật tánh, thì “không phân biệt TA/NGƯỜI” cũng là “tánh không hai” là Phật tánh. Phật tánh là Niết bàn vì chữ “phật” là giác ngộ, và giác ngộ là đạt Niết bàn.
Vậy cái đích của của người tu Phật là tìm tới “tâm không phân biệt TA/NGƯỜI” (không yêu TA hơn NGƯỜI khác), hay nói cách khác “Yêu NGƯỜI như yêu bản thân TA”. Đó là “tâm bất nhị”, là phật tánh, cũng là “tâm không phân biệt”. Không phân biệt TA/NGƯỜI cũng là không duy ngã độc tôn.
2.2.- Đích đến của Ki-tô giáo: là đến được với Thiên Chúa, hay là tìm được “Tình Yêu” (yêu tha nhân như chính bản thân mình), vì Thiên Chúa là Tình Yêu.
Tâm ông Adam khởi đầu là “không thiện không ác”, nếu nói theo từ ngữ Phật giáo thì ông mang “tâm bất nhị” hay sẵn có Phật tánh. Đó cũng là tâm “không phân biệt TA/NGƯỜI”. Lúc này ông đang ở trong vườn Eden. Như vậy điều kiện ở lại vườn Eden là tâm  “không thiện/không ác”, hay tâm “không phân biệt TA/NGƯỜI” (tâm bất nhị).
Ở đây xin nhấn mạnh chữ TÂM, vì "tâm phân biệt" khác với "trí phân biệt": Đạt được tâm không phân biệt là người giác ngộ, nhưng mang trí không phân biệt là người… mất trí. (5)
Sau khi ăn trái cấm, tâm ông Adam trở thành “biết phân biệt Thiện/Ác” là nhị nguyên. Đây cũng là tâm nhị nguyên “phân biệt TA/NGƯỜI” (yêu TA hơn yêu NGƯỜI) vì chính “phân biệt TA/NGƯỜI” sinh ra ác và thiện, và ông bị “đuổi” (thực ra là chính ông tự bước ra) khỏi vườn Eden, để đi vào thế giới có thiện-ác, có tội lỗi.
Như vậy ta nhận ra ngay nếu muốn trở về lại vườn Eden (địa đàng, cũng có nghĩa là Thiên đàng), thì ta phải bỏ “tâm nhị nguyên phân biệt TA/NGƯỜI” (yêu TA hơn yêu NGƯỜI) và đổi thành “yêu NGƯỜI như yêu TA”. Đó là điều răn của chúa Jesus “hãy yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”, hay nói gọn lại là hai chữ Tình Yêu. Nếu thực hiện được điều răn ấy là tìm được Tình Yêu đích thực, là tìm được Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Tình Yêu”“Ai không yêu thuơng thì không biết Thiên Chúa”, và cũng có nghĩa là ai ghét người khác là đã xa rời hay chối bỏ Thiên Chúa.
Những lời giảng của chúa Jesus đều nhắm một mục đích để cho mọi người yêu thương nhau như anh em. Khi mọi người yêu thương nhau thì không còn tranh giành, xung đột: đó là hòa bình, bình an, hạnh phúc. Đó là cảnh giới địa đàng.
Tóm lại, cái đích đến “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình” hay là Tình Yêu, ở Ki-tô giáo rất tương đồng với cái đích đến là “tâm bất nhị” trong Phật giáo. Phật tánh hay Niết bàn ở Phật giáo cũng chẳng khác vườn địa đàng hay Thiên đàng nơi Ki-tô giáo đều ở tâm con người, và có thể nói chung là “tâm vô phân biệt”.
3.- Tâm Đạo và Ngoại Đạo:
Cũng có người theo tôn giáo này cho rằng người theo tôn giáo khác là ngoại đạo. Theo một định nghĩa khác, chữ "ngoại đạo" mang ý nghĩa "tìm đạo ở ngoài tâm", chứ không phải là những đạo khác với đạo của ta.
Con đường đi tìm tình yêu  “yêu tha nhân như yêu chính mình” hay “tâm bất nhị”, là con đường đem lại hòa bình, hạnh phúc, bình an cho tất cả mọi người trong đó có mình, là đích đến chung của Phật giáo và Ki-tô giáo. Con đường đó mới là “Đạo” chân chính. Điều này chỉ tìm được, và phải tự chính mình tìm ở trong TÂM chính mình mà thôi: đó là "tâm đạo".
Còn nếu hướng ra ngoài tâm để tìm đạo, tìm Thiên đàng, hay Niết bàn như là một cảnh giới ở đâu đó bên ngoài tâm, hoặc theo đuổi hạnh phúc do điều kiện bên ngoài như tiền tài, danh vọng, quyền lực, tình yêu vị kỷ, hơn thua, thắng bại… thì đó mới chính là “ngoại đạo”, tức tìm Đạo ngoài Tâm.
Khi còn mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI, là còn muốn tranh giành hơn/thua, được/mất, còn lòng vị kỷ, còn duy ngã độc tôn... thì chẳng đâu là Thiên đàng hay Niết bàn được cả. 
Khi không còn tâm phân biệt TA/NGƯỜI, sống vị tha không vị kỷ, sẽ không còn tranh giành hơn/thua, được/mất... thì cho dù ở đâu cũng là Thiên đàng hay Niết bàn. "Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy", hoặc "tánh không hai là Phật tánh".
4.- Hôn Nhân Dị Giáo.
Chúng ta đã từng nghe hay chứng kiến những cuộc tình tan vỡ giữa chàng và nàng chỉ vì khác tôn giáo. Nàng (chàng) theo Ki-tô giáo nên nhắm tới Thiên đàng nơi Thiên chúa ngự, và chê cái Niết bàn; còn chàng (nàng) theo Phật giáo thì lại mong tới Niết bàn nơi Phật và các vị Bồ tát giang tay tiếp đón, và cho rằng cái Thiên đàng không sánh bằng. Chàng và nàng đang đi tìm “đạo” ngoài tâm mình. Nếu theo “tâm đạo” thì cái đích đến của chàng và nàng cũng chỉ là một, có khác chăng chỉ là cái tên gọi. Đó là sửa tâm mình từ "yêu TA hơn NGƯỜI" trở thành “yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA”, mà Ki-tô giáo gọi là “Tình Yêu”, và bên Phật giáo thì gọi là “Tâm Bất Nhị”, không còn duy ngã độc tôn, hay nói một cách phổ thông là sống vị tha, không vị kỷ.
Trước khi yêu nhau, chàng đi chợ Bến Thành bằng đường Duy Tân, còn nàng thì đi đường Hai Bà Trưng. Sau khi cưới nhau, chàng và nàng ở chung một nơi, và cùng đi một con đường để tới chợ, (hoặc khi đi con đường này khi đi con đường nọ) điều này chẳng hề làm phai lạt tình yêu hay hạnh phúc hai người dành cho nhau, miễn là yêu nhau thực sự. Con đường nào cũng đến cái đích chung.
Trong tôn giáo cũng thế, nếu trước khi yêu nhau, chàng và nàng tuy theo hai tôn giáo, ví như đi hai con đường, thì sau khi lấy nhau cùng sánh vai đi chung một con đường, hoăc vẫn có thể cùng tôn trọng ý thích của nhau, mỗi người vẫn giữ tôn giáo của mình, cũng đâu có sao, vì cũng tới cùng một đíểm đến. Vấn đề là tình yêu chân thực. Nếu tình yêu hạn hẹp giữa chàng và nàng mà còn không xong, mà còn cái TA to lớn xen vào, thì mong gì tìm được tình yêu chân thật đối với tha nhân, để đến với Thiên Chúa, hay tìm được Phật tánh của mình.
Nếu một trong hai, chàng hoặc nàng, lại không theo một tôn giáo nào cả, thì cũng vậy. Cái đích chung cùng theo đuổi cũng vẫn là “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình” là sống vị tha không vị kỷ, các tôn giáo cũng dạy thế và các bài học giáo dục công dân trong xã hội con người cũng dạy như vậy. Ví dụ như trong Gia Huấn Ca, ông Nguyễn Trãi (1380-1442) cũng dạy “thương người như thể thương thân” mang cùng ý nghĩa như thế. Tình thương hay Tình yêu (6) có thể  coi như một tôn giáo chung, giống như quan điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma trong một bài viết nhan đề là “Tình thương là tôn giáo bình dị của nhân loại”, xin trích một đoạn :

“… sự thể hiện TÌNH THƯƠNG là điều rất quan trọng và qúy báu trong xã hội con người. Nơi đây chúng ta chẳng cần triết lý cao siêu, tu viện, chùa chiền, ảnh tượng để thờ, hay các thần linh v.v…, mà chúng ta chỉ cần tình thương. Đơn giản, chúng ta cố gắng trở thành một con người tốt, nghĩa là con người có tấm lòng vị tha. Đừng bao giờ sống ích kỷ mà luôn luôn quan tâm, tìm cách giúp đỡ mọi người, đó mới thực là tôn giáo chân chính, lợi ích cho nhân quần xã hội”.
Tìm đến cái đích Tình thương hay Tình yêu như thế là con đường duy nhất ta đi, dù bạn theo hay không theo tôn giáo nào, nếu muốn mọi người sống bình an hạnh phúc. Là con đường duy nhất nhưng cũng là con đường đầy  chông gai, vì phải chiến đấu với chính mình. Với vợ con, cha mẹ, anh em, nhiều khi tình yêu còn không trọn vẹn, huống gì yêu tha nhân, lại còn thương yêu cả… kẻ thù nữa, lại phải lấy ân… trả oán nữa. Khó khăn chông gai là ở đấy !
Do đó mà cuộc chiến nội tâm nhiều khi đưa tới đau xót trong tâm can tựa gươm chém giáo đâm, chứ không phải bình an êm ả. Đó là ý câu nói có vẻ nghịch lý của đức Giê-su: “không phải ta tới để đem lại bình an, mà là gươm giáo“. Còn đức Phật: “Chiến thăng trăm vạn quân ngoài chiến trường còn dễ hơn chiến thắng chính mình” .
 
Home              Top
Duy Đức
(Mar. 2009)
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         Trang   (1)  (2)
____________
Ghi Chú:

(1) 
“tâm nhị nguyên” là một cách nói khác của “tâm phân biệt”, nên đôi khi ta thấy nói “tâm nhị nguyên phân biệt” hay “phân biệt nhị nguyên”. Ta cũng nghe nói “nhị nguyên đối đãi”. Chữ “đối đãi” mang ý nghĩa hai mặt đối nghịch nhau, như hai mặt của một đồng tiền, mặt này có vì mặt kia có,mặt này diệt thì mặt kia cũng bị diệt theo. Ví dụ như cặp nhị nguyên phân biệt Thiện/Ác: Khởi đầu là không Thiện không Ác, khi cái Ác sinh ra thì cái Thiện cũng sinh thành một cặp nhị nguyên phân biệt Thiện/Ác, nếu khi cái Ác bị diệt thì chữ Thiện không cần nữa nên nó cũng bị diệt theo, lúc đó là "tâm bất nhị”.

(2) “Uẩn” lấy từ chữ “ngũ uẩn” là những yếu tố làm thành con người, mang nghĩa tượng trưng cho “con người”. “Giới” mang nghĩa của chữ thế giới, hay nghĩa của chữ “cõi” (tam giới = ba cõi). Phân biệt nhị nguyên Uẩn/Giới cũng là phân biệt Con người/Thế giới, hay với nghĩa hẹp hơn có thể hiểu là TA/NGƯỜI hay TA/CHÚNG SINH (NGƯỜI khác hay CHÚNG SINH tượng trưng cho thế giới bên ngoài TA)

(3)
Có thể có câu hỏi đặt ra: "Từ đâu sinh ra cái tâm duy ngã độc tôn ?" -- Câu hỏi cũng giống như "Từ đâu sinh ra vũ trụ, từ đâu sinh ra con người, và để làm chi ?" -- Tới giờ chưa có câu trả lời! hơn nữa tìm câu trả lời cũng không cần thiết cho sự tu tâm. Điều rõ ràng và trước mắt là tâm "duy ngã độc tôn" sinh ra tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị..., là nguyên nhân của khổ. Đức Phật nói Ngài không muốn bàn thảo về nguồn gốc vũ trụ, không bận tâm gì về khởi thủy con người, điều Ngài nhấn mạnh là "khổ và diệt khổ", và theo Ngài "tận diệt tham, sân, si" là đường diệt khổ để đến Niết bàn. Tận diệt tham, sân, si là bỏ tâm "duy ngã độc tôn" hay tâm "phân biệt TA/NGƯỜI" (yêu TA hơn NGƯỜI), để trở thành "yêu NGƯỜI như yêu TA", đó là về với "tâm bất nhị", đó cũng là đạo quả "Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác" (không cao không thấp, hoàn toàn bình đẳng, đó là giác ngộ chân chánh).
(4) Giải thích theo kinh điển thì “tội lỗi” là do phản bội, chối bỏ Thiên Chúa. Nếu hiểu “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, thì “tội lỗi” mang ý nghĩa chối bỏ Tình Yêu. Hai chữ Tình Yêu trong Ki-tô giáo mang nghĩa “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”. Như vậy:
 Tội lỗi là do --> chối bỏ Thiên Chúa = chối bỏ Tình Yêu = yêu TA hơn yêu NGƯỜI = phân biệt TA/NGƯỜI = tâm nhị nguyên.
(5) Khác biệt gữa TRÍ và TÂM:

TRÍ chủ yếu về "ngũ quan + khả năng suy nghĩ của khối óc" (lục căn), còn TÂM thiên về tình cảm. Ví dụ: một bà mẹ có đứa con bệnh, bà dồn cả TÂM và TRÍ (tình yêu của người mẹ + vận dụng trí óc) để chăm sóc đứa con, trong khi người y tá có thể chỉ cần trí óc, khả năng chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp là đủ. Ví dụ khác: khi ta sửa cái xe để đi làm, ta chỉ cần trí óc và sự khéo léo, không cần tình cảm (tâm). Do đó TRÍ phân biệt và TÂM phân biệt cũng khác nhau:

-Tâm phân biệt (tâm nhị nguyên) là tình cảm phân biệt yêu/ghét, bạn/thù, ân/oán, vui/buồn... nhưng quan trọng nhất là phân biệt TA/NGƯỜI, "yêu TA hơn NGƯỜI" , TA > NGƯỜI (tình cảm phân hai)
-Tâm không phân biệt (tâm bất nhị) là: không yêu/ghét, không bạn/thù, không ân/oán, không vui/buồn..., quan trọng nhất là không phân biệt TA/NGƯỜI, "yêu NGƯỜI như bản thân TA", TA = NGƯỜI. (tình cảm như nhau, không phân hai, nên là bất nhị)
-Trí phân biệt là cái thấy (khách quan) giữa mọi người mọi vật, trong đó có TA, có tính vật lý khách quan, ai cũng thấy như ai. Ví dụ ai cũng phân biệt được hoa Hồng khác hoa Cúc (khách quan), nhưng cô A mê (yêu) hoa Hồng ghét hoa Cúc, ông B thích hoa Cúc hơn hoa Hồng, đó là tình cảm (tâm) yêu/ghét khác nhau, gọi là "tâm phân biệt", có tính chủ quan.
-Trí không phân biệt là người... mất trí.

Để người mất trí qua một bên, ta có hai hạng người:
(1) Người có "TRÍ phân biệt + TÂM phân biệt (nhị nguyên)" = phàm phu
(2) Người có "TRÍ phân biệt + TÂM không phân biệt (bất nhị) = thoát khỏi phiền não (Phật tánh, giác ngộ).

(6) "Tình Yêu" là hai chữ quan trọng trong Ki-tô giáo, mang nghĩa "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình", là điều răn của chúa Jesus, hay Thiên Chúa. Không tìm được tình yêu tha nhân thì coi như không thể thấy được Thiên Chúa.

"Tình thương" ở đây muốn nói tới tứ vô lượng tâm "từ-bi-hỷ-xả" trong Phật giáo:
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh.
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (mang cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Ki-tô giáo)
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (mang cùng ý nghĩa "vui cùng người vui" trong Kinh Thánh) ,không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc.
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).

Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha”. Nội dung cũng giống như hai chữ Tình Yêu trong Ki-tô giáo ./. 

 



This website is powered by TipTopWebsite.com