|
HAI CON ĐƯỜNG, MỘT ĐIỂM ĐẾN
(Mười Điều Răn và Ngũ Giới)
▬
5.- Mười Điều Răn và Ngũ Giới.
Riêng bốn điều răn đầu của Thiên Chúa Giáo liên quan đến việc thờ phượng Thiên Chúa, còn các điều răn khác trong mười điều răn đều tượng tự như ngũ giới (hoặc thập thiện) của Phật giáo. Ta có thể đối chiếu như sau:
|
MƯỜI ĐIỀU RĂN (Thiên Chúa giáo)
|
NGŨ GIỚI (Phật giáo)
|
|
[1] Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác
|
|
|
[2] Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi
chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-Hô-Va, Thiên Chúa ngươi, là vị thần ghen tương. Hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
|
|
|
[3] Ngươi chớ lấy danh Giê-Hô-Va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-Hô-Va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
|
|
|
[4] Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê–Hô–Va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; vì trong sáu ngày Đức Giê-Hô-Va đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: Vậy nên Đức Giê-Hô-Va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.
|
|
|
[5] hiếu kinh cha mẹ
|
[Ngày Vu Lan: tiêu biểu cho sự hiếu kính cha mẹ]
|
|
[6] chớ giết người
|
(1) Không sát sanh
|
|
[7] chớ tà dâm
|
(3) không tà dâm
|
|
[8] chớ trộm cắp
|
(2) không trộm cắp
|
|
[9] chớ nói chứng dối
|
(5) không nói dối
|
|
[10] chớ tham nhà người lân cận, tham vợ người, hoặc tôi tớ trai gái, bò lừa hay những vật thuộc về kẻ lân cận.
|
[không tham lam: điều (8) trong thập thiện] (1)
|
|
|
(4) không uống rượu
|
Ý nghĩa của những điều cấm trong ngũ giới của Phật giáo hay sáu (trong mười) điều răn của Thiên Chúa giáo, cũng là những bài học về đạo đức công dân trong xã hội con người, nên thực ra cũng khá quen thuộc với mọi người, dù có theo hay không theo một tôn giáo nào. Chúng cũng đã biến thành một phần của pháp luật để giáo dục con người và giữ gìn trật tự xã hội. Ngũ thường trong Nho Giáo “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” cũng mang ý nghĩa tương tự. (2)
Ngoài những điểm căn bản tương đồng của mười điều răn, ngũ thường và ngũ giới, cũng nên tìm hiểu thêm về ý nghĩa của bốn điều răn đầu tiên [1] --> [4] của mười điều răn trong Thiên Chúa giáo liên quan tới việc thờ phượng Thiên Chúa, tránh một vài ngộ nhận cho rằng có phảng phất sự kỳ thị tôn giáo, hoặc hơi mang nét… độc tài:
[1] Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác:
Thần khác ở đây là thần sông, thần núi, thần mặt trời, mặt trăng,… Sự tôn thờ thần khác như vậy là mê tín. Thần khác cũng bao gồm tiền tài, của cải, danh vọng, sắc đẹp…. Tôn thờ những biểu tượng như thế là tìm đạo ngoài tâm, là “ngoại đạo”, chẳng giúp ích gì mà còn làm tăng thêm lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, tăng thêm tranh chấp, xung đột, tăng thêm mầm tại họa.
Với niềm tin nơi Thiên chúa, thì vì Thiên chúa tạo dựng ra tất cả, kể các những thứ gọi là thần khác, thì sự hợp lý là thờ Thiên chúa chứ không phải là thờ các thần khác do Thiên chúa tạo ra.
Với ý niệm "Thiên chúa là Tình yêu", thì hai chữ "tình yêu" là điều cần tôn thờ hơn cả, vì khi có tình yêu (tha nhân) sẽ làm giảm bớt cái TA để vì NGƯỜI, còn tôn thờ các thần khác chỉ là để cầu mong cho cái TA, là làm tăng thêm lòng vị kỷ, nguyên nhân của tham, sân, kiêu mạn, và ganh tị và tội ác.
Cũng tương tự, giáo huấn bên Phật giáo là mọi Phật tử khi qui y Tam Bảo đều phải có “lời phát nguyện là nguyện suốt đời qui y Phật, chứ tuyệt đối không được tôn thờ Thiên, Thần, Qủy, Vật…”
[2] Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình:
Tượng chạm cho mình là tượng trưng cho cái TA. Làm tượng chạm cho mình là tượng trưng cho sự tôn thờ cái TA, và khi tôn thờ cái TA thì không thể yêu thương NGƯỜI trọn vẹn. Tôn thờ cái TA là lòng ích kỷ, nguyên nhân của tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, là mầm mống của tội ác, cần phải loại bỏ.
─ Chớ làm tượng nào giống như vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất, chớ qùy lạy trước các hình tượng đó:
Làm và qùy lạy trước các hình tượng đó (mặt trời, ngôi sao, con cá, con bê, thần tài, thần của cải...) chỉ mang ý nghĩa là để cầu xin của cải vật chất, sắc đẹp và quyền lực cho chính bản thân TA, cũng chỉ mang ý nghĩa củ lòng vị kỷ. Như vậy thì không còn chỗ "yêu tha nhân" nữa. Không yêu tha nhân đồng nghĩa với chối bỏ Thiên chúa, "không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của" (Lc 16, 10 - 13)
─ Thiên Chúa là vị thần ghen tương:
Chữ “ghen tương” thường dùng trong tình yêu nam nữ, mang nghĩa dành độc quyền tình yêu cho một đối tượng duy nhất. Đối tượng duy nhất đây là Thiên Chúa. Có một ý nghĩa rộng hơn về hai chữ Thiên Chúa là “Thiên Chúa là Tình Yêu” , và hai chữ “Tình Yêu” mang ý nghĩa “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”. Do đó, khi nói Thiên Chúa "ghen tương", thì cái nghĩa chính là chỉ có một tình yêu duy nhất được chấp nhận ở ta là “tình yêu tha nhân”.
─ Hễ ai ghét Ta, Ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời:
Ghét Thiên Chúa, cũng là ghét "tình yêu" (vì Thiên Chúa là tình yêu) cũng là không “yêu tha nhân”, mà chỉ yêu cái TA. Chỉ yêu TA mà không yêu NGƯỜI là nguyên nhân sinh ra tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị..., mầm mống của xung đột, chiến tranh, tội ác... và đau khổ sẽ liên miên từ đời này qua đời khác. Đó là ý nghĩa của sự trừng phạt ba bốn đời.
(Ông Adam và bà Eve, tượng trưng tổ phụ loài người, là người đầu tiên mang cái mầm mống của tội ác ấy và gieo truyền lại cho hậu duệ, nên hai ông bà mang "tội tổ phụ" (3) ).
─ và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ta và giữ các điều răn của Ta:
Người yêu mến Thiên Chúa cũng mang nghĩa là người đã tìm được “tình yêu tha nhân”. Giữ các điều răn cũng là tìm được cho mình biết "yêu tha nhân" (“…ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”. (Rm 13:8-10). Khi biết yêu tha nhân thì không còn làm điều ác với mọi người. Khi mọi người cùng yêu thương nhau, thì cái ác... không còn nữa: Đó là bình an, hạnh phúc, hòa bình ngàn đời cho mọi người. Đó là ý nghĩa câu "làm ơn đến ngàn đời".
[3] Chớ lấy danh Giê-Hô-Va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi (dùng danh Thiên Chúa một cách bất xứng), v ì đức Giê-Hô-Va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
Ví dụ, người ta đã hiểu lầm khi sử dụng hình ảnh đức Phật Di Lặc một cách bất xứng, ở cái hình tượng ngài hoan hỉ nâng một thỏi vàng. Thỏi vàng tượng trưng cho tiền tài vật chất mà người ta cầu xin ngài, quả là bất xứng với một vị Phật, và biến ngài thành một ông thần tài, được xếp kế cận bàn thờ thần tài (4). Tôn thờ của cải vật chất là nuôi lòng tham lam, bị coi là một trong những nguyên nhân của tội lỗi trong đạo Phật cũng như trong Kitô giáo. Có lẽ đây là một lý do cho điều răn này, để ngăn chặn hình ảnh tương tự nào đó đối với Thiên Chúa.
[4] Hãy nhớ ngày nghỉ đặng nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê–Hô–Va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; vì trong sáu ngày Đức Giê-Hô-Va đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: Vậy nên Đức Giê-Hô-Va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.
- Điều này đã được giải thích trong sách xuất hành: "Trong sáu ngày, ngươi sẽ làm công việc của ngươi; nhưng ngày thứ bảy, ngươi sẽ nghỉ, để bò lừa của ngươi được nghỉ ngơi, và để đứa con của nữ tỳ ngươi và người ngoại kiều lấy lại sức." (Xh 23:12), nghĩa là phải biết thương người và vật, nên ngày này cũng để nhắc ta về tình yêu thương.
- Con người có đặc tính rất nhạy bén và nhớ dai đối với... tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, hoặc những hận thù, ganh ghét, là những thứ chỉ vì cái TA, mà mau chóng quên đi những lời dạy quan trọng nhưng khó thực hiện là làm sao “yêu NGƯỜI”. Yêu tha nhân mới thực sự đem lại an bình hạnh phúc cho mọi người trong đó có ta. Yêu tha nhân tức là yêu Thiên Chúa, quên yêu thương người khác là quên đi Thiên Chúa, vì "Thiên chúa là Tình yêu".
Điều răn này có mục đích là để yêu cầu mọi người, một cách đều đặn và thường xuyên, phải được nhắc nhở những lời dạy của về Tình yêu (tha nhân), nếu không con người sẽ dễ bỏ quên (giống như những đứa trẻ ham chơi, dễ quên những lời cha mẹ dạy, nên cha mẹ phải thường xuyên nhắc nhở). Đó là ngày “chúa nhật”, mà hầu hết mọi người theo Ki-tô giáo đều đi đến nhà thờ để nghe nhắc nhở về những lời dạy của đức Jesus để học cách làm sao “yêu tha nhân như chính bản thân mình”, một bài học khó học và lại dễ xao lãng nhất, nhưng lại quan trọng bậc nhất, là con đường duy nhất đem lại an bình cho mọi người./.
Duy Đức
(Apr-2009)
_____________
(1) Thập thiện:
(1) Không sát sanh, (2) Không trộm cắp, (3) Không tà dâm, (4) Không vọng ngữ, (5) Không ỷ ngữ, (6) Không lưỡng thiệt, (7) Không ác khẩu, (8) Không tham lam, (9) Không sân giận, (10) Không si mê.
(2) Ngũ thường so với ngũ giới:
(1) Nhân: tình thương người mến vật, cũng không khác… (1) giới cấm sát sanh.
(2) Nghĩa: cư xử theo lẽ phải, trong đó phải bao gồm……. (2) giới không trộm cắp.
(3) Lễ: phép tắc tốt đẹp, tôn trọng nhau, trong đó…………. (3) không thể có chuyện tà dâm.
(4) Trí: giữ cho trí óc được minh mẫn, thì……………………(4) không thể lạm dụng uống rượu.
(5) Tín:giữ mình luôn là người đáng tin cậy, trong đó……. (5) không thể có chuyện nói dối.
Tới đây, xin trở lại một chút với “tội tổ tông” mà ông Adam phải mang nặng muôn đời, với tội danh thường được nói tới là “phản bội”, “chối bỏ”, hay “bất phục tùng” Thiên Chúa. Cũng với ý niệm “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, nếu ta lấy chữ TÌNH YÊU thay cho từ THIÊN CHÚA, thì tội của ông Adam đổi thành tội “phản bội”, “chối bỏ” hay “bất phục tùng” TÌNH YÊU, và mang một ý nghĩa có vẻ phổ quát hơn, dễ chấp nhận hơn dù với người không mang niềm tin Ki-tô giáo. Cách giải thích cũng đơn giản: Khi ông Adam phát khởi tâm phân biệt thiện ác, cũng chính là ông phát khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI, là ông “yêu TA hơn NGƯỜI khác”, trái ngược hẳn với ý nghĩa của hai chữ TÌNH YÊU trong Ki-tô giáo là “yêu NGƯỜI như yêu chính TA”. Như vậy là ông đã chối bỏ TÌNH YÊU, nên cũng có nghĩa là ông chối bỏ Thiên Chúa. Và tới ngày nay con người cũng vẫn tiếp tục chối bỏ Tình Yêu như vậy.
Chối bỏ Tình Yêu như vậy là căn nguyên của xung đột, chiến tranh, bất hạnh, tội ác. Nuôi dưỡng và phát triển Tình Yêu như vậy là hòa bình, hạnh phúc, bình an, là không còn tội ác "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10). Sau này chính đức Jesus đã rao giảng tình yêu như thế, với mục đích để cứu nhân loại khỏi tội ác, và ngài đã hi sinh cả thân mình cho sứ mạng đó. Đó là ý nghĩa của ba chữ "Chúa Cứu Thế" mà nhân loại đã trân trọng khi xưng danh ngài. Và cây thập tự giá nơi ngài đã hi sinh thân mình một cách thánh thiện như thế được gọi là "Thánh Giá".
(4) ... Theo tập tục của bá tánh người Việt lẫn người Hoa, trong trang thờ đặt tại phòng khách mỗi nhà, hai vị Thần Tài và ông Địa tươi cười ngồi cạnh nhau, trên tay đều cầm nén vàng, còn tượng Di Lặc thì được trên nóc trang thờ này. Và để thêm phần hoan hỷ, trên tay tượng Di Lặc Bồ Tát cũng có một, hai nén vàng thật lớn! ...(Trích từ: http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=4&nid=106258 )
......Tuy nhiên, hình ảnh Đức Di Lặc bụng lớn miệng cười xề xòa đã bị thế gian hóa nặng nề theo thời gian và càng ngày càng bớt đi sự truyền cảm.
Theo niềm tin của người Trung Hoa, hình ảnh Đức Phật cười có thể đem đến sự may mắn, thành công, hạnh phúc, mãn nguyện, sung túc và giàu có. Qua thời gian, hình ảnh Phật giáo bị người Trung Hoa làm pha trộn bằng những lý tưởng Trung Hoa về đời sống và sự hạnh phúc. Sự pha trộn đó đã làm lệch lạc những lý tưởng và giá trị nguyên thủy của Phật giáo. Và ngày nay, hạnh phúc đã trở thành đồng nghĩa với sự giàu có về vật chất. Hình ảnh Đức Phật Di Lặc trở thành một vị thần được sùng bái với hy vọng có được của cải dồi dào và cuộc sống may mắn. Hình tượng Đức Phật Di Lặc bị đồng hóa với “ông địa” trong tín ngưỡng dân gian của Trung Hoa. (Trích từ: http://www.giacngo.vn/tetcanhdan2010/muaxuanvaphatgiao/2010/02/02/5FC049/ )
___
|