NIỀM VUI NIẾT BÀN
Thường ngôn ngữ không nói rõ được một số ý nghĩa trong đạo Phật. Ví dụ như dùng chữ "vui", "hạnh phúc" của phàm phu (xin dùng chữ "phàm phu" cho gọn, để chỉ con người đời thường) thì ta hiểu là người ấy được thỏa mãn điều gì mình mong muốn. Nhưng vì lý vô thường, nên chữ mất luôn lấp ló đằng sau chữ được và cái mất chắc chắn nhất không thể tránh là... sự chết, cho nên nỗi buồn cũng luôn lấp ló đằng sau cái vui. Được/mất, vui/buồn, ân/oán, thiện/ác… từng cặp “nhị nguyên đối đãi” luôn gắn bó với nhau như hai mặt của một đồng tiền, cái này có vì cái kia có, và những cái "vui" đạt được từ đó là cái "vui của phàm phu".

Nhưng vì không có chữ nào khác, nên trong đạo Phật vẫn phải dùng chữ "vui" hay "hạnh phúc" để nói về đặc tính “lạc” của Niết bàn, thì mới hấp dẫn người ta được. Nhưng vì phàm phu chỉ chú tâm tới cái "vui" kiểu phàm phu (khi “được” trong cặp nhị nguyên được/mất), nên cứ tưởng cái "vui" nơi Niết bàn là được thỏa mãn toàn bộ những ước muốn trần tục của mình, vì tâm phàm phu là “tâm nhị nguyên”. Nhưng Niết bàn là ở trạng thái “tâm bất nhị”
(1) không bị vướng mắc vui/buồn, được/mất, thiện/ác, ân/oán ... là những phiền não nó quấy rầy, đó cũng là "vui" hay "hạnh phúc" nhưng ý nghĩa khác hẳn.

1.- Ví dụ về hai cái vui nói trên
, trong kinh Đại Niết Bàn có viết: 


"Niết Bàn vốn không có sự vui, do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết Bàn. Một là vì dứt những sự vui, chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thiệt vuị. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết Bàn không khổ không vui nên Niết Bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết Bàn."

Xin được giải thích:
─ Niết bàn không có sự vui:  chữ "vui" này là vui của phàm phu (do được/mất, hơn/thua…, tức là "nhị nguyên"). Niềm vui do được/mất, hơn/thua, thắng/bại...không phải là cái VUI Niết bàn. Niền vui Niết bàn là niềm vui "bất nhị" không được/mất, hơn/thua, thắng/bại...
─ do vì bốn điều vui nên gọi là Đại Niết Bàn:  chữ "vui" này là vui Niết bàn (do không được/không mất, không hơn/không thua…) . Bốn điều vui này là "thường, lạc, ngã, tịnh" là tính chất của Niết bàn (2) .
─ Một là vì dứt những sự vui (phàm phu): chỉ có một đường duy nhất là dứt những cái vui phàm phu, mới đạt được niềm vui Niết bàn.
─ chẳng dứt sự vui (phàm phu) thời gọi là khổ:  Còn đeo đuổi niềm vui phàm phu, thì nỗi buồn khổ thế nào cũng tới, ta gọi chung "buồn/vui" phàm phu này bằng chữ "khổ"
─ nếu có khổ thì chẳng gọi là thiệt vui:  nếu còn mang cái khổ (do buồn/vui phàm phu) thì không có cái vui Niết bàn (thiệt vui).
─ vì dứt sự vui nên không có khổ:  vì bỏ được cái vui phàm phu (không vướng mắc được/mất hơn/thua) nên cái khổ cũng biến mất (cái này diệt thì cái kia diệt).
─ không khổ không vui mới gọi là đại lạc: -- không khổ/không vui (phàm phu) là cái vui lớn của người giác ngộ, vì không vướng mắc được/mất, hơn/thua, ân/oán, thiện/ác....
─ Tánh Niết bàn không khổ không vui (phàm phu) nên Niết bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết bàn: -- Khi không còn mang cái khổ/cái vui của phàm phu thì đó chính là cái vui lớn (đại lạc) của người giác ngộ hay chứng đắc Niết bàn.
Vì nói Niết bàn  (3)  riết rồi phàm phu cứ tưởng Niết bàn là nơi thỏa mãn toàn bộ các ước muốn phàm phu của mình, nên bây giờ dùng chữ Đại Niết Bàn cho phân biệt ra, giống như nói ở ví dụ khác dưới đây, cũng trong kinh Đại Niết Bàn:
"Thế nào là Niết Bàn ?
Như người đói đặng chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bịnh được lành thời gọi là an vui. Như người kinh sợ đặng chỗ nương dựa thời được an vui. Như người nghèo cùng đặng châu báu thời được an vui. Như người quán xương trắng chẳng sanh lòng tham dục thời được an vui. Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Đại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đối."
Sự “ tương đối” nói trên ý nói còn những nhị nguyên đối đãi “vui vì no/khổ vì đói”, “vui vì lành bệnh/khổ vì có bệnh”… Đối với phàm phu khi đang khổ vì đói mà gặp được bữa cơm ngon, khi đang sống cảnh nghèo cùng cực mà lại vớ được châu báu, thì sung sướng tột cùng, và ví nỗi sung sướng ấy như là gặp Niết bàn. Niềm vui sướng ấy có đấy rồi cũng mất đấy vì lý vô thường, cho nên mang tính tương đối. Niềm vui sướng như thế không phải là Niết bàn theo ý của đức Phật, nên dùng chữ "Đại Niết Bàn" để phân biệt.
2.- Cái Vui Phàm Phu và Niềm Vui của Chư Phật:
Một ví dụ khác nói về hai cái vui khác nhau:

"Vui có hai thứ: Vui của phàm phu và vui của chư Phật. Vui của phàm phu là vô thường bại hoại, nên không có thiệt vui. Vui của chư Phật là thường là không biến đổi nên gọi là đại lạc. Lại có ba thứ thọ : Một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Bất khổ bất lạc đây cũng là khổ. Niết Bàn dầu cũng chẳng khổ, chẳng vui nhưng là thật vui, do đây nên gọi là Đại Niết Bàn.”

─ Vui của phàm phu là vô thường bại hoại, nên không có thiệt vui: Vui của phàm phu do được/mất, hơn/thua… Được/mất, hơn/thua biến đổi vô thường, nên tuy vui đó nhưng rồi cái buồn lại tiếp nối theo sau, do vậy mà cái vui phàm phu không phải cái “thiệt vui” của Niết bàn.
─ Vui của chư Phật là "thường" là không biến đổi nên gọi là đại lạc: Cái vui của người giác ngộ là dứt bỏ được cái “vui/buồn phàm phu”, là cái tâm bất nhị “không vui/không buồn phàm phu”. Không vui/không buồn là ở giữa vui và buồn nên cũng là “trung đạo”. Vui có mất đi, buồn có mất đi nhưng “tánh không hai” hay “trung đạo” đứng giữa nên không mất nên gọi là “thường” là “không biến đổi”. Cái “tánh không hai” ấy là Phật tánh, là “niềm vui” không biến đổi, khác hẳn với chữ “vui” phàm phu, nên gọi là “đại lạc”
─ Lại có ba thứ thọ: Một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ: Cảm thọ lạc, khổ, và bất khổ/bất lạc đều là cảm thọ của phàm phu: - cảm thọ lạc sinh ra hoan hỉ - Cảm thọ khổ sinh ra sầu muộn - cảm thọ “bất khổ/bất lạc” tuy không gây hoan hỉ hay sầu muộn, những cũng có thể gây sự thờ ơ buồn chán, đều mang tính tình cảm phàm phu.
Bất khổ bất lạc đây cũng là khổ. Niết Bàn dầu cũng chẳng khổ, chẳng vui nhưng là thật vui, do đây nên gọi là Đại Niết Bàn.” Cái “bất khổ/bất lạc” của phàm phu còn mang tính phiền não, khác hẳn với sự thoát khỏi nhị nguyên khổ/vui là “tánh không hai chẳng khổ/chẳng vui” của chư Phật, đó là “thật vui”.
Cùng sử dụng chữ “vui” cho cả hai trường hợp, nhưng ý nhgĩa thì trái nghịch hẳn nhau, một cái vui của phàm phu (do được/mất, hơn/thua…) và một cái “vui” của chư Phật (không còn vướng mắc vào được/mất hơn/thua…), cho nên nhiều khi ta cũng hơi thấy lẫn lộn. Để phân biệt ở đây đã tạm dùng chữ “thật vui”
3.- Ví dụ về sự phân biệt hai loại “Hạnh Phúc”.
Trong kinh sách Phật giáo có  một câu chuyện về một anh chàng bị bệnh ghẻ ngứa thường được dùng làm ví dụ về "tâm nhị nguyên" và "tâm bất nhị", và cũng để giúp ta hình dung sự khác nhau giữa "hạnh phúc phàm phu" và "hạnh phúc Niết bàn".

Vì vướng phải bệnh ghẻ ngứa, anh ta cảm thấy khổ sở vì cái ngứa, nhưng khi gãi đúng... chỗ ngứa anh ta cảm thấy sung sướng. Cái "sướng" này được cảm nhận do có cái "khổ" vì ngứa, đó là "nhị nguyên" (cái này có mặt vì cái kia có mặt), ví như "hạnh phúc phàm phu". Cái hạnh phúc phàm phu này mỏng manh  (vô thường) vì sau đó cái khổ vì ngứa sẽ trở lại, nếu không được chữa trị. 

Khi hết bệnh, anh ta có một hạnh phúc khác hẳn: đó là không "khổ" vì ngứa cũng không "sướng" vì được gãi, ví như "tâm bất nhị", và cái "hạnh phúc" đó được ví với..."hạnh phúc Niết bàn" (không klhổ/không sướng vì không ngứa/không gãi).

Nếu ta chưa từng mang bệnh ghẻ ngứa bao giờ, là ta vốn đã có sẵn cái "hạnh phúc Niết bàn" ấy mà ta không hề biết. Trở lại với anh chàng đã từng bị ghẻ ngứa và khi được chữa hết bệnh, là anh ta đã được trở về với cái "hạnh phúc Niết bàn" anh ta vốn có ấy. Còn đối với ta vì chưa từng bị ghẻ ngứa, nên có sẵn cái "hạnh phúc Niết bàn" ấy mà không hề biết, nó hiện diện nhưng không có tên gọi, chữ "hạnh phúc" chỉ là tạm mượn chữ “hạnh phúc phàm phu” để diễn tả cho ta hiểu, mà ta hay thư
ờng hay nghe chữ "thị danh" hay "giả danh".

Ví dụ này còn cho ta ý niệm rằng con người vốn có cái "hạnh phúc Niết bàn" từ thuở ban đầu (không bị bệnh), nhưng không hề biết. Điều này gợi ý cho ta ý nghĩa của từ "bản lai diện mục" hay mặt thật xưa nay.

4.- TÓM LẠI:


─ "Tâm nhị nguyên" dẫn đầu là "tâm phân biệt nhân/ngã", cũng là "duy ngã độc tôn", coi TA bự hơn NGƯỜI: từ đó → sinh ra tranh giành xung đột,... → đưa tới các nhị nguyên khác được/mất, hơn/thua, th
ắng/bại, thiện/ác, ân/oán, bạn/thù, buồn/vui, sướng/khổ, thân/sơ, khinh/trọng... tâm nhị nguyên là tâm phàm phu, là phiền não.
Phàm phu lấy sự “được”, hơn”, “thắng” … làm niềm vui, làm hạnh phúc.

─ "Tâm bất nhị" hay "tánh không hai" là "tâm không phân biệt nhân/ngã" là coi NGƯỜI như TA (trong Ki-tô giáo nói :yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình, cũng cùng ý nghĩa): --> từ đó không tranh giành xung đột... --> KHÔNG được/mất, hơn/thua, thiện/ác, ân/oán, vui/buồn.... Đấy là Phật tánh.

Niền vui hay hạnh phúc của chư Phật là do loại bỏ “được/m
ất, hơn/thua, thắng/bại…”.
Đó là sự khác biệt giữa hai cái vui./.
Duy Đức.
(May-2009)
 
Home           Top
__________
Ghi Chú:
(1) Tâm bất nhị” là “tánh không hai”, mà tánh không hai là Phật tánh theo câu nói sau đây của đức Phật: “Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện, hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh chủa chúng không hai. Tánh không hai là Phật tánh.” Tánh không hai là Phật tánh, Phật tánh là tánh giác ngộ, giác ngộ là Niết bàn.
 
(2) Bốn đặc tánh của Niết bàn "thường, lạc, ngã, tịnh":
         ─ Thường: 
* Thiện/ác, yêu/ghét, vui/buồn… có tính biến đổi, nên là VÔ THƯỜNG.
* Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… là đứng ở vị trí giữa (trung đạo) không ngả về bên nào cả, nên không còn vô thường nữa mà là THƯỜNG. Đó là ý nghĩa của chữ THƯỜNG trong “thường, lạc, ngã, tịnh”.
        * Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… chính là tánh không hai, hay trung đạo.
        ─ Lạc : 
Đời sống phàm phu có vui có khổ, nhưng cảnh Niết bàn lấy sự không khổ/không vui (của phàm phu, do hơn/thua, được/mất...) làm cái đại lạc. Đó là cái nghĩa LẠC trong “thường, lạc, ngã, tịnh”. 

─ Ngã :
Đức Phật nói “ngã” đây là chỉ Phật tánh, và ngài thường dùng chữ“ngã chân thật”   hay “chân ngã”, cùng nghĩa với “bản tâm”, “chân tâm”, “chân như”, hay là “bản lai diện mục”.

─ Tịnh: là tính chất bình an, tự tại, không vướng mắc phiền não khi đã trở về cái “bản tâm” hay “chân ngã”. Lúc này là đã trở về cái tâm trống trải ban đầu (cũng gọi là bản lai diện mục), không chứa những phân biệt nhị nguyên hơn/thua, được/mất, yêu/ghét, ân/oán... nên gọi là "thanh tịnh", hay "tịnh". 
        Trong thực tế, phần lớn người đời có những mơ ước về "thường, lạc, ngã, tịnh" khác hẳn với những điều đức Phật muốn nói. Người ta muốn "thường" là muốn những cái gì mình thích thì còn mãi mãi, người ta muốn "lạc" là muốn được những gì mình ham muốn, người ta nghĩ "ngã" là muốn cái TA luôn luôn được tốt đẹp hơn người, người ta muốn "tịnh" là muốn được yên ổn với những cùng với những thứ mình đã giành giật được..., những cái "muốn" này đều xuất phát từ lòng tham, sân, si, hoặc từ cái gốc của chúng là "chấp ngã".
        Tuy nhiên, "thường,lạc, ngã, tịnh" nơi Niết bàn là cảnh giới tự chứng (chỉ có ai đã chứng mới nhận ra được), không thể diễn tả chính xác cho người khác, vì vượt ngoài ngôn từ của thế gian. Ví dụ, đối với phàm phu chỉ có "lạc" khi giành được "thắng" hay "được" hay "hơn" trong những cặp nhị nguyên "thắng/bại", "được/mất", "hơn/thua", nhưng khó có thể tưởng tượng được lại có cái "đại lạc" trong cái "không thắng/không bại", "không được/không mất", "không hơn/không thua" (bất nhị, không hai).... Vì thế, để cho người đời thường tạm hiểu, đức Phật đã phải mượn ngôn từ đời thường (thường, lạc, ngã, tịnh) mà diễn tả, để cho thấy sự tốt đẹp, hấp dẫn của Niết bàn để theo các pháp của ngài mà tu tâm.
(3) Một cách nói khác về Niết bàn:
           Trong Kinh Phật Tự Thuyết, có một đoạn nói về Niết bàn như sau:
       Như vầy tôi nghe:
       Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết-bàn cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các Tỷ-kheo ấy chú tâm, tác ý, dồn tất cả tâm tư lắng nghe pháp.
       Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

        "- Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi." 

       Chữ nghĩa thật là... khó hiểu, nhưng có một trích đoạn của một bản dịch đơn giản hơn, như dưới đây:

         "Có sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt.
Vì nếu không có sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt thì sẽ không có sự xuất ly khỏi sự sanh, sự trụ, sự biến hoại, sự diệt.
Nhưng vì có sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt nên có sự thoát ly khỏi sự sanh, sự trụ, sự biến hoại, sự diệt"
http://www.phapluan.net/Baihoc/Lichg...an_04_2009.htm

         những chữ tương đồng:

- Có sự "không sanh"        = không sanh.
- Có sự "không hiện hữu" = không hiện hữu = không trụ.
- Có sự "không bị làm"     = không bị làm     = không biến hoại
- Có sự "không hữu vi"     = không hữu vi     = không diệt (thường chữ "hữu vi" được dùng chỉ cái gì đấy có tính sanh/diệt)

Dựa vào ý này, giải thích sẽ đơn giản hơn:

- Có sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt : có một nơi (Niết bàn) mang tính "thường" (1 trong 4 tính chất Niết bàn là "thường, lạc, ngã tịnh", xem ghi chú (2)) : không sanh, trụ, hoại, diệt (viết gọn lại là không sanh/không diệt)

- Vì nếu không có sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt ---> thì sẽ không có sự xuất ly khỏi sự sanh, sự trụ, sự biến hoại, sự diệt" : Nếu không có một nơi (Niết bàn) "không sanh / không diệt" (thường) như thế ---> thì khó mà hấp dẫn phàm phu xuất ly khỏi cái lối mòn "sanh, trụ, hoại, diệt" (vô thường), nghĩa là sống sao thì cứ vậy mà sống, không muốn thay đổi, bởi thay đổi rồi đi đâu, nếu không có nơi… hấp dẫn hơn ?

- "Nhưng vì sự không sanh, không trụ, không biến hoại, không diệt ---> nên có sự thoát ly khỏi sự sanh, sự trụ, sự biến hoại, sự diệt" : Nhưng vì có nơi (NIết bàn) "không sanh / không diệt" (thường) như vậy, ---> nên phàm phu mới mạnh dạn thoát ly khỏi lối mòn vô thường "sanh, trụ, hoại, diệt".

Như vậy, mới mong hấp dẫn phàm phu đi theo đường của Phật, chứ nếu chỉ nói cuộc đời con người chỉ có "sanh, trụ, hoại, diệt" (vô thường) hết kiếp này tới kiếp khác, thì cuối cùng con người sẽ trở về đâu. Vì thế có cái nơi "không sanh/không diệt" (thường hằng) làm nơi nương tựa, thì con người mới mạnh dạn thoát ly cái vô thường sanh/diệt, có/không, vui/buồn, được/mất. Lời Phật nói có tính cách
“khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ”, như nói trong đoạn kinh mở đầu trích trên.

 



This website is powered by TipTopWebsite.com