TỪ ADAM TỚI CHÚA CỨU THẾ

Con người, thường thì ai cũng mang trong tâm một tình cảm phân biệt giữa cái TA và NGƯỜI khác, mà thường ta coi là lẽ đương nhiên: đương nhiên là ta yêu ta và những gì thuộc về ta hơn là với người khác. Đây là tâm nhị nguyên: một cái nhìn phân hai: một bên là TA (hơn) còn bên kia là NGƯỜI (không bằng). Điều này rất dễ thấy, ví dụ có hai món tiền, một bên nhiều, một bên ít, nếu được chọn thì từ ý nghĩ cho tới hành động ta đều muốn cái món tiền lớn và đẩy món kia cho người khác, thậm chí là có khi còn muốn chiếm lĩnh cả hai. Tâm “nhị nguyên” này cũng còn gọi là “tâm phân biệt TA/NGƯỜI”, hay “ngã chấp”, và theo cách nói của đức Phật là “duy ngã độc tôn”.
Từ tâm nhị nguyên phân biệt TA/NGƯỜI, con người phát sinh lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận, như người viết đã giải thích trong các bài trước, khi nói về tâm phân biệt  và  tâm bất nhị. Đó là nguyên nhân của một chuỗi dài các tâm nhị nguyên khác, trong đó có THIỆN và ÁC:
Phân biệt TA/NGƯỜI → Ganh tị, Kiêu mạn, Tham lam, Sân hận → Tranh giành, xung đột → Ác.
Khi cái ÁC hình thành thì xuất hiện ý niệm THIỆN và thành một cặp nhị nguyên Thiện/Ác.
Cùng vớí cặp nhị nguyên thiện/ác, còn vô số các cặp nhị nguyên khác như được/mất, hơn/thua, thắng/bại, khen/chê, vui/buồn, giàu/nghèo, sống/chết, sướng/khổ, khinh/trọng, thân/sơ, bạn/thù, ân/oán…
1.- KHỞI ĐẦU… là TỘI TỔ TÔNG
Trở lại với chuyện Sáng Thế Ký, khi ông Adam và bà Eva ăn trái cấm “biết phân biệt thiện ác”, mọi sự bắt đầu từ đây.
Là người đầu tiên trên thế gian, tâm của ông Adam và bà Eva còn hồn nhiên trống vắng, chưa hề biết cái ÁC, nên chưa có ý niệm THIỆN, do đó chưa có phân biệt thiện/ác, nghĩa là chưa mang tâm nhị nguyên, mà từ ngữ Phật giáo gọi là “tâm bất nhị” hay “tánh không hai”: đó là “bản tâm” của ông Adam và bà Eva (tượng trưng cho con người đầu tiên)
Thế rồi vì bị lôi kéo theo sự cám dỗ (tượng trưng bằng những lời dụ dỗ của con rắn), hai vị phát khởi tâm phân biệt nhị nguyên thiện/ác, tượng trưng bằng hành động ăn trái cây biết phân biệt thiện ác. Mang “tâm nhị nguyên phân biệt thiện ác” cũng là mang “tâm phân biệt TA/NGƯỜI” (vì “phân biệt Ta/Người” sinh ra cái “ác”). Thế là từ đó tâm nhị nguyên phát triển, kèm theo là tội ác cùng các đau khổ phiền muộn, triền miên kéo dài và ngày một sinh sôi nảy nở thêm ra, như những di căn của căn bệnh ung thư vậy:
(tâm nhị nguyên đầu tiên): Phân biệt TA/NGƯỜI
(Duy ngã độc tôn)
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
Tranh giành, xung đột, mưu mô, lừa đảo...
(nhị nguyên): Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, khen/chê, THIỆN/ÁC
 (nhị nguyên): vui/buồn, giàu/nghèo, sống/chết, sướng/khổ, khinh/trọng,thân/sơ, bạn/thù, ân/oán…
 
Sau khi biết phân biệt thiện ác, ông Adam và bà Eva (và cả hậu duệ sau này là chúng ta) bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi vườn địa đàng để bắt đầu nhận lãnh hậu qủa của cái “ác” là những đau khổ và cái chết, vì đã không tuân lệnh. Đó là một niềm tin.
 
Nhưng nếu bạn không mang niềm tin như thế thì đơn giản hơn: Con người ban đầu vốn tính bản THIỆN (chữ THIỆN đây xin hiểu là “không thiện không ác”, vì lúc đó chưa có tâm “ác” nên cũng chưa có chữ “thiện” theo nghĩa đối nghịch của nó). Vì khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI nên sinh cái ÁC, do đó mới có THIỆN để thành cặp nhị nguyên thiện ác, và một chuỗi dài những đau khổ phiền não tiếp sau; đó là bể khổ, nói theo từ ngữ của Phật giáo, mà hiểm họa lớn nhất là sự tranh giành, xung đột, chiến tranh... có thể mang tới sự diệt vong cho cả loài người.
 
Kể từ khi ông bà Adam Eva đã ăn trái cấm về sau, ông bà và hậu duệ, do giao tiếp, truyền cho nhau cái tâm phân biệt TA/NGƯỜI hay lòng "vị kỷ, không vị tha". Khi đã mang cái tâm ấy là đã ẩn dấu cái ác trong mỗi con người, và dần dần cái ác phát lộ ra. Đó là lý do mà Kitô giáo nói mọi người đều mang tội lỗi (1) , và dù vô tình hay cố ý, dù biết hay không biết, thì ông bà Adam và Eva cũng là người đầu tiên khởi cái tâm ấy, nên hai ông bà lãnh cái trách nhiệm gây ra "tội tổ tông".... ,đó là sự khởi đầu. Sau này đức Jesus gỡ trách nhiệm trên vai hai ông bà bằng sự rao giảng về hai chữ tình yêu. Và ngày nào mọi người yêu thương nhau thì "tội tổ tông" mới được gỡ bỏ khỏi vai ông Adam và bà Eva. 
 
2.- HÀNH TRÌNH từ ADAM tới CHÚA CỨU THẾ.
Tâm phân biệt có tính cách lây truyền mãnh liệt, qua mọi hậu duệ của ông Adam và bà Eva. Cha mẹ nuôi con cùng với tâm phân biệt, trẻ nhỏ lớn lên chung đụng với những người mang tâm phân biệt thì lây nhiễm là điều dễ thấy. Tội ác và đau khổ từ đó hình thành và cứ thế tiếp diễn mãi. Đời của ông Adam và bà Eva không thấy tác giả Sáng Thế Ký nói tới tội ác, nhưng với hai người con đầu tiên của hai ông bà là Ca-in và A-ben thì tội ác bắt đầu. Tội lỗi luôn phát sinh từ lòng ganh tị, tính kiêu mạn, tâm tham lam, lòng sân hận..., và những tâm tính ấy phát sinh từ lòng vị kỷ , mà lòng vị kỷ lại được sinh ra từ tâm phân biệt Ta/Người, như chúng ta đã có dịp tìm hiểu trong các trang viết trước. Cứ thế tội ác cứ tiếp nối tiếp nối, sinh sôi nảy nở…
2.1.- Tội ác đầu tiên do lòng ganh tị.
Đó là án mạng Ca-in giết em ruột là A-ben chỉ vì lòng ganh tị. Lòng ganh tị sinh bởi tâm phân biệt nhân ngã. Khi thấy em mình được Thiên chúa ưu ái hơn, tuy rằng có thể đó chỉ là do cái nhìn chủ quan lệch lạc, Ca-in đã để lòng ganh tị làm chủ mình mà giết A-ben. Thái độ đúng phải là “vui với kẻ vui”, hay hoan hỉ trước thành đạt của kẻ khác (như chữ “hỉ” trong đạo Phật).
Triết lý của câu chuyện là “tội ác luôn luôn rình rập đằng sau những kẻ mang lòng ganh tị”. Mà lòng ganh tị sinh ra từ tâm phân biệt Ta/Người, nên “tội ác cũng luôn rình rập đằng sau những kẻ mang tâm phân biệt Ta/Người”
2.2.- Đại Hồng Thủy.
Từ Adam cho đến đời ông Nô-ê, là lúc xảy ra nạn hồng thủy, đã qua trên một ngàn năm. Trong thời gian ấy, mỗi con người trong xã hội loài người đã mang tâm phân biệt nhân/ngã, cũng là mầm mống của tội ác, hoặc đã, hoặc đang, hoặc chờ dịp để phát tác… với viễn cảnh một tương lai đen tối với tội ác và khổ đau. Nhìn thấy sự việc như vậy, chính Thiên chúa cũng phải buồn rầu và hối hận vì đã tạo dựng ra loài người với kết qủa không lường được như vậy. Và ngài đã quyết định xóa bỏ toàn bộ. Đó là lý do của trận đại hồng thủy, xóa bỏ loài người đã mang mầm mống tội ác và khổ đau do tâm phân biệt nhân ngã gây ra.
Triết lý của câu chuyện là “họa diệt vong sẽ đến trong một ngày nào đó nếu con người không chiến đấu để trừ bỏ tâm phân biệt Ta/Người, lòng vị kỷ”.
2.3.- Ngăn chận tội ác: câu chuyện tháp ba-ben.
Đây là bài học về lòng kiêu hãnh, sinh bởi tâm phân biệt Ta/Người. Khi mang tâm phân biệt, con người tự cho mình là tài giỏi, là hay, là  có quyền, là ưu tiên, lên mặt khinh khi kẻ khác: đó là kiêu hãnh. Kiêu hãnh đưa tới ganh tị, sân hận…, và rồi dẫn tới xung đột, oán thù, rồi đổ máu, và tội ác. Đó là lý do Thiên chúa đã ngăn chặn sự hoàn tất tháp Ba-ben. Nếu sự hoàn thành tháp Ba-ben tượng trưng cho lòng kiêu hãnh, thì sự bỏ dở lại tượng trưng cho việc ngăn chặn sự phát sinh lòng kiêu hãnh.
"Kiêu hãnh đi liền với ô nhục,khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường." (Châm ngôn 11:2)
"Kiêu ngạo sinh ra nhiều đổ vỡ và bất hoà" (Tob.4:13)
"Sự kiêu hãnh đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã." (Châm ngôn 16:18)
 
Triết lý của câu chuyện là: “Lòng kiêu mạn thường gây ra xung đột, đổ vỡ, và tội ác”. Mà lòng kiêu mạn sinh ra từ tâm phân biệt Ta/Người, nên “tâm phân biệt Ta/Người cũng là một trong những nguyên nhân gây nên xung đột, đổ vỡ, và tội ác”.
 
2.4.- Tiếp tục hành trình.
 
Từ sau trận đại hồng thủy, Thiên Chúa tự nhủ: “Ta sẽ không còn bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa. Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta không bao giờ sát hại mọi sinh vật như ta đã làm!”. Tuy nhiên ngài có những dự tính khác: đó là hưóng dẫn loài người đi theo đường ngay lẽ phải, bằng những điều răn và sau này bằng những lề luật răn đe là nếu con người phạm tội ác sẽ bị trừng phạt, vì dù muốn hay không con người cũng đã nhiễm tâm phân biệt, và lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận đều sẵn sàng chờ dịp để phát lộ ra, để đi vào tội ác.
 
Kinh thánh Cựu Ước ghi lại những diễn tiến phát sinh tội ác, oán thù, đau khổ… của con người xoay quanh lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận… qua những câu chuyện dựa vào những sự kiện lịch sử lập quốc của người Do Thái, những tập tục, lề thói, tâm lý trong cuộc sống xã hội thời bấy giờ. Và lồng vào đó hình ảnh Thiên Chúa với những thưởng, phạt của ngài dành cho những người tuân giữ hay không những điều răn bảo của ngài.
 
Từ Cựu Ước dẫn dắt qua Tân Ước, đó là sự xuất hiện của đức Jesus Christ, người đã rao giảng về TÌNH YÊU, tức là “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình” để thay thế cái “tâm phân biệt Ta/Người” (tức là yêu Ta hơn yêu Người), mầm mống của tội ác. Ngài đã hi sinh mạng sống của mình cho sứ mạng đó, và cái chết của ngài lại cũng chính là bởi lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận của ngững kẻ quyền thế thới đó.
 
Hành trình lập quốc của người Do Thái tìm về đất hứa là vô cùng khó khăn gian khổ. Khó khăn gian khổ ấy đến từ hai phía:
 
1/ bên ngoài: sự cản trở của người Ai Cập, các nhóm nghịch thù khác, cùng với những chướng ngại thiên nhiên trên đường như sa mạc, những chướng ngại và đói khát.
 
2/ Nhưng  trở ngại quan trọng hơn cả là chính trong nội bộ cộng đồng và nội tâm của người Do Thái. Trong cuộc hành trình ấy, người Do Thái đã cho thấy nhiều lần họ đã tỏ ra… thối chí, nhút nhát, trước những cản trở bên ngoài, nhẹ dạ, an phận, dễ bị cám dỗ… cho nên đã nhiều phen nổi loạn chống lại chính thủ lãnh của họ, lại có những lúc họ tức giận phiền trách cả với Thiên Chúa của mình.
 
Cũng trong hành trình này, người Do Thái luôn luôn được nhắc nhở phải loại bỏ ý muốn tôn thờ các vị thần khác để chỉ thờ một mình Thiên Chúa. Cũng từ cuộc hành trình này, hệ thống lề luật khá khắt khe hình thành, dựa trên nguyên tắc "răng đền răng, mắt đền mắt", để duy trì trật tự cộng đồng. Sau này đức Jesus kiện toàn "lề luật" ấy, bằng cách rao giảng hai chữ Tình yêu, "lấy tình yêu thương để xóa bỏ tội ác".
 
Hành trình để tìm về đất hứa của người Do Thái, tượng trưng cho nỗ lực vượt thoát khỏi ách nô lệ nơi xứ Ai-cập (cựu ước)  cũng giống như hành trình tu đức, hay tu tâm của mỗi con người để vượt qua kiếp nô lệ cho tội lỗi, cho lòng vị kỷ, cho lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị,... cuộc chến đấu cũng gian nan như vậy. Trong hành trình tu đức, đất hứa là sự “Bình an, Hạnh phúc” của mỗi người và mọi người (tân ước). Sự gian nan là ở chỗ mỗi người phải chiến đấu với chính bản thân mình, chống chọi lại những cám dỗ vị kỷ để mong tìm sự toàn thắng cho Tình Yêu (tha nhân). Lòng vị kỷ là gốc gác của tham sân si, kiêu mạn, ganh tị... và tội ác, còn Tình Yêu sẽ tiêu diệt lòng vị kỷ, tội ác. Không còn cái Ác là Bình an, Hạnh phúc. Chiến đấu với bản thân nhiều khi đưa tới dằn vặt đau xót tựa gươm chém giáo đâm, như lời đức Jesus nói "không phải ta tới để đem lại bình an, mà là gươm giáo".
 
2.5.- Tính vị kỷ, lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị... trong cựu ước:
 
Lòng ganh tị của bà Sarai đụng độ tính kiêu hãnh của nữ tì Hagar:  Một mối thù hận.
 
Vì bà Sarai không sinh được một đứa con nào cho ông Abram là chồng bà, nên bà yêu cầu chồng  sinh con cho mình qua người nữ tì trung tín là Hagar. Không ngờ khi có thai, người nữ tì lại nổi tính kiêu hãnh coi khinh bà chủ vì cho rằng bà chủ đã quá già không thể sinh con. Sarai vừa ganh tị vì thua sút, vừa giận vì bị đứa nữ tì khinh khi, bà được sự đồng ý của Abram và lấy danh bà chủ hành hạ Hagar, khiến cô này chịu không nổi phải bỏ ra đi.
 
Nhưng vì sắp sanh, nên Hagar phải trở lại và sanh người con trai đầu lòng cho Abram, tên là Ismael, và tạm yên cho tới khi Sarai sinh được đứa con trai là Isaac, thì bà chủ Sarai đuổi thẳng thừng Hagar và Ismael. Lang thang đói khát trên sa mạc, và đối diện với cái chết trước mắt, nhưng hai mẹ con Hagar cũng thoát chết.
 
Ismael sau này là tổ phụ của một dân tộc lớn gồm 12 chi nhánh, mà người ta nói đó là dân tộc Ả-rập. Còn Isaac là tổ phụ của một dân tộc khác là Israel. Có người cho rằng có lẽ mối hận xa xưa ngấm ngầm này cũng là một trong những nguyên nhân của sự hận thù giữa người Ả-râp và người Israel, cứ dai dẳng không nguôi cho tới ngày nay (?).
 
Lòng tham và ganh tị, đưa đến phân rẽ gia đình Isaac.
 
Kế đến là câu chuyện của gia đình Isaac, con trai của ông Abraham và bà Sarah (tên mới của Abram, và Sarai). Isaac và vợ tên là Rebekah có hai người con là Esau và Jacob. Rebekah yêu con thứ là Jacob hơn con trưởng Esau, và bà đã âm mưu bày kế lừa, để dành quyền trưởng nam cho Jacob, khiến Esau căm giận và nuôi ý định giết Jacob. Rebekah biết ý định của Esau, nên cho Jacob trốn qua xứ khác.
 
Nhờ thời gian qua đi, niềm uất hận của Esau giảm và đã không xảy ra chuyện đáng tiếc khi anh em gặp lại nhau sau này.
 
Cứ thế tham, sân, kiêu mạn, ganh tị, liên tục tác động xoay chuyển xáo trộn dòng tộc Isaac. Cho tới Joseph là cháu nội của Isaac, con của Jacob và Rachel bị đám anh em ganh tị, âm mưu giết hại, nhưng thoát chết và bị bán làm nô lệ qua xứ Ai cập. Nhờ thông minh lanh lợi, từ một tên nô lệ, Joseph trở thành tể tướng bên Ai cập. Do nạn hạn hán ông dẫn dắt dòng họ qua Ai cập để tránh lúc đói kém, và họ lập nghiệp ở đấy mấy trăm năm (dân tộc Israel), cho đến khi bị người bản xứ bạc đãi, thì họ bỏ đi tìm về đất mà Thiên Chúa đã hứa cho họ.
 
Câu chuyện vua SAUL và DAVID.
 
Samuel là vị thẩm phán cuối cùng, và Saul là triều đại vương quyền đầu tiên của dân tộc Israel, và kế tiếp Saul là vua David.
Chuyện kể Saul, vị vua đầu tiên khi vương quyền tại Israel được thành lập, có một thuộc hạ trẻ tuổi là David. Một lần trong trận chiến với người Philistines, David tình nguyện đối đầu với sự thách thức của một đấu thủ không lồ tên là Goliath (mà mọi người Israel khác đều phải run sợ), và đã giết chết Goliath, cứu nguy cho quân Israel. Sách Samuel 1 ghi lại chiến công đầu của David như sau :
“… khi ông David hạ được tên Phi-li-tinh Philistines trở về, thì phụ nữ từ hết mọi thành của Israel kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Saul, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Phụ nữ vui đùa ca hát rằng:
"Vua Saul hạ được hàng ngàn,ông David hàng vạn."
Vua Saul giận lắm, và bực mình vì lời ấy. Vua nói: "Người ta cho David hàng vạn, còn ta thì họ cho hàng ngàn. Nó chỉ còn thiếu ngôi vua nữa thôi!"  Từ ngày đó về sau, vua Saul nhìn David với con mắt ghen tị.” (1 Samuel 18:6-9)
Ngay ngày hôm sau, không kềm được nỗi bực tức vì lòng ganh tị, Saul đã phóng giáo vào David “Ta phải đâm David, ghim nó vào tường mới được”. Nhưng hai lần David tránh được.” (1 Samuel 18:11). Sau đó Saul đẩy David đi chiến trận ở xa, với ý định cho chết ngoài chiến trận, nhưng David không chết mà còn thành công lớn, và dân Israel mến mộ ông hơn, khiến Saul càng sợ và ganh tị. Từ đó Saul tìm mọi cách để giết David cho bằng được:
Vua Saul nói với ông David: "Ðây con gái lớn của ta là Merab, ta sẽ gả nó cho con. Nhưng con hãy tỏ ra là một người can đảm phục vụ ta và hãy chiến đấu những cuộc chiến của Ðức Chúa." Vua Saul tự bảo: "Mình đừng tự tay hại nó, nhưng để tay người Philistines hại nó… Nhưng đến lúc phải gả cô Merab, con gái vua Saul, cho ông David, thì cô lại được gả cho ông Adriel, người Meholathite.." (1 Samuel 18:17-19)
hạ nhục David bằng cách gả cô gái lớn, tuy đã hứa hôn với David, cho người khác, và dùng cô con gái kế để làm cạm bẫy đối với David:
“… Cô Michal, con gái vua Saul, yêu ông David. Người ta cho vua hay và vua thấy điều đó là phải.  Vua Saul tự bảo: "Mình sẽ gả con gái cho nó, để con này thành cạm bẫy cho nó, và tay người Philistine hại nó." (1 Samuel 18:20-21)
Với lòng ganh tị ngày càng tăng, vua Saul đeo đuổi một cách điên khùng việc giết hại David. Tuy rằng tới hai lần Saul lọt vào tay David, nhưng được David tha mạng sống, mà Saul cũng không tỉnh ngộ, vẫn nuôi dưỡng lòng hận thù. Nhưng rồi sau những ngày tháng bị nung nấu bởi hận thù, sân giận, ganh ghét…, Saul đã hoàn toàn thất bại và cuối cùng chết trong tay người Philistines.
Vị vua kế tiếp Saul là David. Triều đại David rực rỡ hơn Saul, vì David công minh hơn Saul, nhưng cuối đời ông, ông cũng không vượt qua được cám dỗ của dục vọng và quyền lực, của lòng tham lam. David vì đam mê sắc dục, tuy đã có nhiều vợ, nhưng ông lại cướp vợ một võ quan tên là Uriya, và âm mưu mượn tay quân thù để giết ông này. Câu chuyện xảy ra như thế này:
 …Sau khi chiến thắng người Syrians…, vào một buổi chiều, vua David đi bách bộ trên sân thượng đền vua, và nhìn thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời.  Vua sai người đi điều tra về người đàn bà, và được cho biết: "Ðó chính là bà Bathsheba, con gái ông Eliam, vợ ông Uriya"  Vua sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và sau đó người đàn bà cho vua biết là bà đã thụ thai. 
Để che dấu lỗi lâm của mình, Vua David sai người gọi ông Uriya từ mặt trận, cho về nhà gặp vợ để xóa chứng cớ về cái thai. Nhưng ông này chỉ về gặp vua chứ không về nhà với vợ mình, lý do là không muốn vui vẻ cho riêng mình cùng vợ trong lúc chủ tướng (là ông Joab) cùng đồng đội còn đang ở ngoài chiến trường. Chính lòng nhiệt tình với nhiệm vụ đã đưa ông tới cái chết, vì vua David ra lệnh cho ông Joab là chủ tướng của ông Uriya bằng mật thư: “Hãy đặt Uriya ở hàng đầu chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết”. Sự việc đã xảy ra như ý muốn của David. Và sau khi chôn cất chồng, bà vợ ông Uriya được vua David đón về làm vợ, và sinh cho ông một người con trai… (2 Sa-mu-en 11: 1-26)
Truyện Kinh Thánh còn dài lắm. Đó không phải là một tài liệu lịch sử, nhưng dựa vào lịch sử lập quốc của người Do Thái, cùng với những tập tục, lề thói, tâm lý nhẹ dạ dễ bị cám dỗ của con người..., các tác giả đã lồng vào đó cái nguyên nhân đã đưa tới tội lỗi ngày một trầm trọng, đó là lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận, để rồi đưa đến sự xuất hiện của đấng cứu thế là chúa Jesus.
 
3.- … Đến CHÚA CỨU THẾ.
 
Cho tới ngày đức Jesus giáng sinh, đó là thời vua Herod.
 
Các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Jerusalem và hỏi “Đức vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi tới bái lạy Người.”. . Nghe tin ấy vua Herod bối rối và lo lắng, ông không thể chấp nhận lại có một vị vua khác, trong khi ông đang làm vua, tuy chỉ là một hài nhi qua lời tiên tri hay lời đồn. Ganh ghét và rồi thù hận, ông âm mưu giết hài nhi Jesus. Nhưng nhờ được sứ thần Chúa báo mộng cho cha mẹ ngài, cả nhà trốn thoát qua Ai-cập. Nỗi giận của Herod trút lên đầu các trẻ em khác. Đó là một cuộc tàn sát đẫm máu các con trẻ ở Bê-lem và vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống.
Khi đức Jesus trưởng thành, ngài nhận ra nguyên nhân đau khổ của loài người khởi từ lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận, mà nguyên nhân do cái tâm lý chung của mọi người là "yêu TA hơn NGƯỜI". Ngài tìm cách cải sửa cái tâm phân biệt nhị nguyên ấy bằng cách rao giảng về Tình Yêu (2) , biến cái thói quen “yêu TA (bản thân) hơn yêu NGƯỜI (tha nhân)” thành “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”.”,... "những gì ta muốn người khác làm cho ta, thì ta làm điều đó cho người"... Ta với Người hòa đồng, không còn phân biệt nữa, mọi hành động của Ta là vì hạnh phúc của Người, và hạnh phúc của Người chính là hạnh phúc của Ta. Chỉ có con đường đó mới xoay chuyển lại, để cứu con người khỏi bể khổ và cái họa diệt vong.
Đó là ý nghĩa của ba chữ “đấng cứu thế” hay “chúa cứu thế” mà người đời trân trọng khi xưng danh ngài. Ngài đã hy sinh cả mạng sống cho sứ mạng đó, bởi chính vì lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận của những con người quyền thế hồi đó. Lòng ganh tị, kiêu mạn, tham lam, sân hận, chính là sản phẩm của tâm phân biệt.  Nhân loại nhớ tới ngài cùng với sự hy sinh cao cả ấy với lòng biết ơn và tôn kính. Hình ảnh thập tự giá, nơi khổ nạn của đức Jesus mang ý nghĩa “cứu thế” thánh thiện đó, nên mang tên là Thánh giá.
 
Bên phương Đông, trước đó hơn năm trăm năm, đức Phật Thích Ca cũng nhận ra cái bể khổ ấy của loài người mà khởi đầu do tâm “duy ngã độc tôn”, cũng là “tâm phân biệt nhân ngã”. Ngài xuất gia tìm đường cứu khổ cho nhân loại, và suốt cuộc đời còn lại sau khi thành đạo, ngài chỉ giảng dạy con người về con đường giải thoát cái khổ ấy. Đó là diệt lòng tham sân si bà tứ vô lượng tâm "từ-bi-hỷ-xả" (3)
 
Bài giảng “cứu thế” và “cứu độ” của hai vị chỉ dạy con người yêu thương nhau . Đó là những bài học tuy đơn giản nhưng lại rất khó thuộc. Và tới giờ, không ai lại không nhìn thấy lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị… nguyên nhân của tội ác vẫn còn đầy rẫy trên thế gian này, vì loài người hầu hết vẫn chối bỏ tình yêu (tha nhân), và trong Kitô giáo nếu hiểu “Thiên Chúa là Tình Yêu” thì cũng chính là chối bỏ, phản bội hay quay lưng lại với Thiên Chúa vậy. Chỉ có "yêu tha nhân như yêu bản thân mình" như lời dạy của chúa Jesus, mới loại trừ được cái Ác, mới tránh được xung đột và đem lại an bình hạnh phúc cho mọi người, vì khi "đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10)
 
Yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA, nghe thì đơn giản, nhưng quả là khó khăn. Tham cũng chỉ cho TA, sân cũng vì cái TA, si cũng vì TA, kiêu mạn cũng cho TA, ganh tị cũng bởi cái TA. Tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị, hầu như bao trùm... mọi người, nên tội ác từ đó mà ra, bởi thế mới cần tôn giáo để tận diệt tham, sân,si, để dậy người ta yêu thương nhau. Thành ra công việc của các nhà hoạt động tôn giáo hẳn còn... nặng nề lắm.
 
4.- Giao ước: Cựu ước và Tân ước.
 
Giao ước mang ý nghĩa thoả thuận, lời hứa, giữa hai bên. Ở đây, một bên là “Thiên chúa sẽ ban cho điều này” nếu bên kia là con người “tuân theo những điều kiện kia”. Hiểu một cách khác, cũng có thể xem đó là hình thức nhân-quả, làm như thế này (nhân) sẽ được hưởng kết quả thế kia (quả).
 
4.1.- Cựu ước.
 
Giai đoạn từ ông Adam, rồi ông Nô-ê, ông A-bra-ham, đều có những giao ước, nhưng giao ước vào thời ông Mô-sê dẫn dắt dân Israel vượt qua thời nô lệ ở Ai cập để đi về đất hứa Ca-na-an là quan trọng hơn cả trong giai đoạn trước đức Jesus. Đó là giao ước cũ, hay cựu ước. Giao ước cũ như sau:
 
─ Về phần Thiên chúa: hứa sẽ giải thoát dân Do thái qua nô-lệ và đưa tới miền đất hứa tự do với đầy hoa trái và mật ngọt là xứ Ca-na-an.
 
“Ta sẽ nhận các ngươi làm dân riêng của Ta, và đối với các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa. Các ngươi sẽ biết rằng Ta, Ðức Chúa, là Thiên Chúa các ngươi, Ðấng cứu các ngươi khỏi phải làm việc khổ sai cho người Ai-cập. Ta sẽ đưa các ngươi vào miền đất mà Ta đã giơ tay thề sẽ ban cho Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Ta sẽ ban đất ấy cho các ngươi làm sở hữu…" (Xh 6:7-8)
 
─ Về phần nhiệm vụ của người Israel là vâng theo lời dậy của Thiên chúa qua việc giữ 10 điều răn và các lề luật thông qua thủ lãnh Mô-sê.
 
Ông (Mô-sê) lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: "Tất cả những gì Ðức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo." (Xh 24:7)
 
“…Người đã thông báo cho anh em giao ước của Người, giao ước mà Người truyền cho anh em đem ra thực hành, đó là mười lời Người viết trên hai bia đá (Mười Điều Răn). Phần tôi (Mô-sê), thời đó, Ðức Chúa truyền cho tôi dạy anh em các thánh chỉ và quyết định, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp sang chiếm hữu…” (Đệ nhị luật 4:13-14)
 
4.2.- Tân ước.
 
Tân ước mang hình thức “tâm linh hoá” hay “nội tâm hoá” hành trình đi từ nô lệ tới miền đất hứa.
 
Sự nô lệ trong tân ước được nội tâm hoá là sự nô lệ cho tội lỗi của hầu hết mọi người. Nô lệ cho tội lỗi chính là nô lệ cho lòng tham sân si, kiêu mạn, ganh tị, hay nô lệ cho cái tâm vị kỷ. Bởi chính lòng vị kỷ đưa tới tội lỗi.
 
Đất hứa là hạnh phúc ngay trong nội tâm của mỗi người và hạnh phúc đời đời cho mọi người, khi mọi người biết bỏ lòng vị kỷ mà sống vị tha, hay là yêu thương nhau. Không vị kỷ mà vị tha là thoát khỏi sự ràng buộc của  tham sân si, kiêu mạn, ganh tị, là được tự do, là được giải thoát.  Đó là nước Trời, nước Thiên chúa, ở ngay nội tâm của mỗi người, như lời giải thích của đức Jesus: "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17,20-21).
 
Tân ước mang rõ ý nghĩa nhân qủa:
 
─ Nếu mọi người yêu thương nhau (nhân) thì sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời nơi nước Trời (quả). Yêu thương nhau thì không còn tranh giành, xung đột, chiến tranh… đó là hạnh phúc từ thế hệ này sang thế hệ khác, hay là đời đời. Tình yêu  được sống lại, và sẽ sống mãi cùng với hạnh phúc. Đó là ý nghĩa của sự sống đời đời.
 
─ Ngược lại, không có tình yêu sẽ đưa đến tội lỗi. Tình yêu tượng trưng cho đức Jesus theo nghĩa Thiên chúa là tình yêu, mà đức Jesus là ngôi hai Thiên chúa. Sống trong tội lỗi là đã giết chết tình yêu (hay đức Jesus) ngay trong lòng mình. Ý nghĩa ở đây là chính những con người sống tội lỗi đã đóng đinh đức Jesus trên thập giá, như lời giải thích của thánh Phan-xi-cô An-xi-di:
 
"Không phải quỉ dữ đã đóng đinh Người trên thập giá; chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người vào thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa, khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi" (T. Phan-xi-cô Át-xi-di, khuyến dụ 5, 3).
 
Cuộc hành trình giải thoát từ nô lệ để đến miền đất hứa của người Do thái trong cựu ước rất vất vả khó khăn. Và cuộc hành trình tìm hạnh phúc nước Trời trong nội tâm của mỗi con người trong tân ước, còn khó khăn hơn nữa, vì phải chiến đấu với chính mình để loại bỏ lòng vị kỷ mà sống vị tha để “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”. Chiến đấu với chính mình nó khó khăn, và nhiều khi gây đau đớn và xót xa trong nội tâm tựa gươm chém giáo đâm, như lời đức Jesus ”không phải ta tới để mang lại bình an, mà là gươm giáo”. Còn đức Phật cũng nói tới sự khó khăn vất vả để chiến thắng được chính mình “chiến thắng trăm vạn quân ngoài chiến trường không bằng chiến thắng chính mình; chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất” ./.  
 
Duy Đức
(May/2009)
 
_________
 
Ghi Chú:
 
(1) Làm điều gì hay việc gì mà chỉ vỉ lợi ích của bản thân ta, tức là vị kỷ, thì đều có nghĩa là ác, là đã mang tội lỗi.
Người mang tâm tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị... là vị kỷ, là người mang tội lỗi. Tâm tham, sân kiêu mạn, ganh tị... là hậu qủa của tâm phân biệt TA/NGƯÒI (yêu TA hơng NGƯỜI) là mầm mống tội ác, là tội lỗi
 
Ý niệm về cái ác (tội lỗi) bên Phật giáo cũng vậy, “Làm việc có ích cho người là thiện, còn chỉ có lợi cho riêng mình  là ác. Có ích cho người thì dù đánh hay mắng chửi họ cũng gọi là thiện, chỉ có ích cho riêng mình dù tôn kính, lễ phép đối với người cũng kể là ác." (hoà thượng Trung Phong)
 
(2) "Tình Yêu" trong ý niệm "Thiên Chúa là Tình Yêu" của thánh Phaolô, là "yêu tha nhân như yêu bản thân mình", cũng mang nghĩa là "vị tha không vị kỷ". Đó là quên mình để phục vụ tha nhân, như ý niệm "hủy mình ra không" về đức Jesus  như nói trong thư gởi tín hữu Philipians "chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người" (Pl 2:7) nghĩa là bỏ lòng vị kỷ (cái TA) để phục vụ tha nhân (NGƯỜI), không phânbiệt TA/NGƯỜI.
 
Ý niệm "hủy mình ra không" này cũng tương tự như TÁNH KHÔNG hay "tánh không hai" trong đạo Phật.  
 
(3)  Trong giáo lý Phật giáo, “tứ vô lượng tâm” tức “Từ-Bi-Hỷ-Xả”, cũng mang cái nghĩa  "tình yêu tha nhân" mà đức Jesus rao giảng: 
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh.
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Kitô giáo).
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc, cùng ý nghĩa với "vui cùng người vui" trong Kitô giáo)).
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).

Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha”, cùng mang ý nghĩa "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình". Học được tứ vô lượng tâm thì không còn tham sân si. Không tham sân si chính là niết bàn, vì theo ngài "Đồng nghĩa với niết bàn, này các tỳ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si". 
 
 
 
 
 

 



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com