SINH, TỬ và TÁI SINH
▬
Sinh và Tử là một trong những mối quan tâm hàng đầu của con người. Từ đâu sinh ra, sinh ra để làm gì, và sau khi chết sẽ đi về chốn nào, có thể nào thoát cái cửa tử được không? Những câu hỏi không có câu trả lời chính xác, nên mới có những suy luận và từ đó có những niềm tin khác nhau.
Là mối quan tâm hàng đầu của con người, nhưng chính đức Phật Thích Ca lại không quan tâm tới những câu hỏi như thế. Ngài không quan tâm tới nguồn gốc con người, sau khi chết con người còn lại cái gì hay đi về đâu, mà chỉ quan tâm tới cái hiện tiền trước mắt là sự “khổ”, nguồn gốc của khổ và làm sao diệt khổ.
Dù sao cái chết cũng là cái khổ trong bể khổ, vì cái “chết” làm cho con người sợ hãi, lo lắng, ưu phiền. Và để làm con người an tâm (ít ra cũng một phần nào), trong Phật giáo có nói tới một nơi “không sinh/không tử”, và trong Ki-tô giáo thì có một nơi “sống đời đời”.
Vô thường là một luật tự nhiên bao trùm vũ trụ vạn vật, không thể có một vật nào có thể vĩnh viễn thường còn, định luật này dường như không có ngoại lệ. Nhưng tưởng tượng rằng nếu vạn vật là “thường hằng” không biến đổi, thì quả thực cũng chẳng có gì là lý thú. Nếu tâm trí ta vẫn như hiện giờ, mà vạn vật lại thường hằng thì ta cũng khó mà thỏa mãn với mọi thứ, mọi vật, mọi người không biến đổi: nụ hoa chưa nở thì đừng nở, đã nở thì cứ y như thế vĩnh viễn, mọi vật bất động vĩnh viễn, con người cũng vĩnh viễn như thế, như vậy. Nếu còn biết suy nghĩ thì chắc chắn con người sẽ ngán ngẩm vì nhàm chán, như vậy thì thà rằng đừng biết suy nghĩ còn hơn, và “không suy nghĩ + không biến đổi” thì chẳng khác một cục đá không hao mòn. Thế thì... thà “vô thường”… còn sướng hơn!
Như vậy, xem ra không phải con người ghét cái sự vô thường, nhưng là muốn nhường cái mạng sống “vô thường” cho NGƯỜI khác, còn đối với chính mình TA thì được “thường còn”. TA muốn sống mãi trong khi NGƯỜI khác thì lần lượt ra đi, NGƯỜI thì bệnh tật già lão, còn TA thì mạnh khỏe dẻo dai trẻ mãi không già. Đấy là cái hậu quả của tâm phân biệt TA/NGƯỜI, chỉ chăm chú vun đắp cho bản thân TA để mong hơn NGƯỜI mà thôi.
Bởi vậy cái nơi “không sanh/không tử” hay “sống đời đời” cũng đem lại một tia hy vọng, một sự hấp dẫn đối với con người. Thế nhưng có mâu thuẫn không khi đã nói mọi sự “vô thường” lại còn có chuyện “thường còn” như vậy? Ý nghĩa của sanh tử , hoặc không sanh không tử, hoặc tái sanh trong tôn giáo là gì ?
1.- Ý Nghĩa Của Cái Chết đối với ông ADAM trong Sáng Thế Ký.
Chúng ta lại trở lại câu chuyện ông Adam và bà Eve ăn “trái cây biết phân biệt thiện ác” để rồi chuốc lấy cuộc sống khổ ải và cái chết, mà ta thường hiểu là do sự trừng phạt của Thiên Chúa vì hai ông bà đã không tuân theo lời ngài mà lại nghe theo sự cám dỗ (tượng trưng bằng những lời dụ dỗ của con rắn):
"...Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết."
"...Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Hai ông bà đã ăn! Thế là sự chết đến với ông Adam và bà Eve và cả loài người là hậu duệ của hai ông bà..
Tại sao ăn “trái cây biết phân biệt thiện ác” thì sẽ bị chết ? Cái chết ở đây mang ý nghĩa gì?
Điều đầu tiên khá rõ ràng là trước khi ăn trái cấm ông Adam chưa hề biết cái chết là gì cả, vì ông là người đầu tiên. Nếu tới một ngày nào đó ông nằm xuống thì cũng như mọi sinh vật, mọi vật, đều bị hủy hoại bởi luật vô thường… nó tự nhiên như thế và như vậy!
Và sự việc đổi khác sau khi ông đã khởi tâm phân biệt thiện/ác (cũng là tâm phân biệt TA/NGƯỜI), những cặp tình cảm nhị nguyên đối đãi phát sinh từ đó, trong đó có sống-chết, sanh-diệt. Và ông đã biết tham sự sống, kinh sợ cái chết, bởi vì ông yêu qúy cái TA và những thứ CỦA TA riêng trong đó có thân xác ông, không muốn mất. Tình cảm này chưa hề có trước đó.
Vạn vật vô thường (đây là luật tự nhiên), sự sinh và cái chết thân xác nằm trong tiến trình tự nhiên của vạn vật, nó như thế là như thế, như như, như vậy! Chiếc lá trên cành cây, nở từ búp lá, lớn dần, rồi héo úa, theo gió lìa cành, rồi dần dần tan biến trong lòng đất, để rồi mầm búp lá khác sinh ra ... cứ thế theo tiến trình sinh diệt vô thường của vạn vật một cách tự nhiên như vậy, như thế...
Và thân xác con người cũng như thế, một hài nhi sinh ra, lớn lên, rồi già, rồi tới một ngày nào đó nằm xuống và tan biến trong lòng đất để "trở về với cát bụi", cũng trong tiến trình tự nhiên như thế, như vậy.
Cái quan trọng ở đây chính là cái tình cảm (tâm) sợ hãi cái chết chứ không phải là cái chết thân xác. Cái tình cảm sợ hãi này vốn không có trước khi ông Adam và bà Eve mang tâm phân biệt (tượng trưng bằng hành động ăn trái cây biết phân biệt thiện ác). Lúc đó hai vị chưa mang tình cảm yêu-ghét, hơn-thua, giàu-nghèo, sướng-khổ … nên không có gì phải nuối tiếc để phải phát sinh ra nỗi sợ mất mát. Ngày nay thì khác hẳn, chúng ta nuối tiếc qúa nhiều thứ nếu mất đi, mà với cái chết là mất hết, cho nên ta sợ hãi. Ước muốn của ta là tồn tại mãi (thường còn), còn cái chết (vô thường) thì đẩy cho người.
Như vậy, nếu không mang cái tình cảm khiếp sợ cái chết, thì sự tan rã của thân xác chẳng còn là quan trọng nữa, chỉ như bông hoa tàn, như chiếc lá úa, trong tiến trình tự nhiên của vạn vật vô thường. Mà tình cảm về (yêu/ghét) sanh-tử ấy chỉ nẩy sinh khi con người đã mang tâm phân biệt.
Vậy nếu bằng phương cách nào đó ta trở lại được với tâm vô phân biệt của Adam trước khi ăn trái cấm, thì cái tình cảm về sợ hãi cái chết không còn nữa: ý niệm về “tử” không còn thì ý niệm về “sanh” (trong cặp nhị nguyên “sanh/tử”) cũng không còn. Đó hẳn là cái nghĩa "không sanh không tử", một trong những tâm bất nhị trong Phật giáo.
Cái "chết" còn mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc khác, xin đề cập dưới đây.
2.- Ý Nghĩa Tâm Linh của Cái Chết và Sự Tái Sinh.
Trong bài thơ “YÊU”, thi sĩ Xuân Diệu mở đầu bằng câu “Yêu là chết ở trong lòng một ít”, chữ “chết” ở đây là “chết ở trong lòng”, hay trong tâm hồn, chứ không phải chết thân xác. Tâm hồn đang thư thái, bình lặng thì hình ảnh nàng (chàng) xâm nhập làm cho xáo trộn bởi những tình cảm nhung nhớ, ghen tương, giận hờn, thao thức…, nghĩa là đầy phiền muộn. Đấy là cái “chết” trong tâm hồn! Giả dụ nếu chàng (nàng), thoát khỏi cái lôi cuốn của tình yêu ấy, mà trở lại được với tâm hồn thư thái, bình lặng xưa, thì có nghĩa là đã từ “cõi chết” trở về, hay nói cách khác là đã được “tái sinh”.
Trong phúc âm thánh Gioan, cũng nói tới ý niệm “tái sinh” mang ý nghĩa tâm linh, trong đoạn văn đối thoại giữa đức Jesus và ông Nicodemus:
“Đức Giê-su trả lời: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa (tái sinh) bởi ơn trên."
Ông Ni-cô-đê-mô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao? "
Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và thần khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên . Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy." (Ga 3:3-8)
Muốn vào nước Trời thì phải “sinh ra một lần nữa” nghĩa là “tái sinh”, điều này làm ông Nicodemus ngạc nhiên, cứ tưởng là thân xác phải trở vào lòng mẹ để được sinh lại, để thành một trẻ sơ sinh lần thứ hai, đó là điều không thể và cũng không phải là điều đức Jesus muốn nói. Điều ngài muốn nói là trở về với tâm hồn trong trắng của trẻ thơ chứ không phải trở về cái thân xác của trẻ thơ:
“Nếu anh em không quay lại mà trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời . Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” (Mt 18,3) ....... “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng.” (Mt 19,14)
Khi ngài nói một người cần “tái sinh”, có nghĩa là người ấy “đã chết”. Nhưng thân xác ông ta vẫn sống sờ sờ ra đó, thì cái chết ngài đề cập không phải là xác thịt mà là cái chết của một "tâm hồn lương thiện, thanh khiết" (tâm linh): ─ một tâm hồn khi còn lương thiện mang ý nghĩa là “còn sống”, nhưng nếu nó đã biến đổi thành một kẻ có tâm tính bất lương, chứa đầy tội lỗi, thì đó là một tâm hồn “đã chết” theo ý nghĩa tâm linh.
Trở lại với ông Adam và cái chết ông sẽ nhận lãnh cũng mang thêm cái ý nghĩa tâm linh ấy. Trước khi khởi tâm phân biệt thiện/ác, ông đang sống trong vuờn Eden, vì tâm hồn ông thanh khiết, không vướng mắc những phân biệt nhị nguyên TA/NGƯỜI, không thiện/ác, không yêu/ghét, không sướng/khổ, không ân/oán, không hơn/thua…. (là tâm bất nhị, nói theo ngôn ngữ Phật giáo). Một tâm hồn như vậy mang ý nghĩa là “còn sống”. Khi ông khởi tâm phân biệt thiện/ác, là tâm ông bắt đầu biết phân biệt TA/NGƯỜI (Ta hơn Người), biết tranh giành hơn/thua, thiện/ác, yêu/ghét, sướng/khổ, ân/oán… đó là “tâm phân biệt nhị nguyên”, là ưu phiền và là nguồn gốc của tội lỗi. Nếu so với cái tâm thuần khiết trước khi ăn trái cấm, thì cái tâm sau này coi như là “đã chết”. (vì đã biết tới cái ác, tức là không còn cái bản tâm lương thiện nữa)
Giả dụ nếu ông Adam gột bỏ hoàn toàn “tâm phân biệt nhị nguyên” như thế để trở về với “tâm bất nhị”, là ông được trở lại vườn Eden từ "cõi chết" ("cõi chết" tâm linh là thế giới thiện/ác ta đang sống), đó là ý nghĩa của chữ “tái sinh” của đức Jesus.
Đối với đức Jesus, sự sinh/tử gồm hai khía cạnh, xác thịt và tâm hồn, theo ý nghĩa của câu nói “Cái bởi xác thịt thì sinh ra xác thịt, cái bởi thần khí sinh ra là thần khi” . Như vậy cái chết cũng chia ra chết xác thịt và chết thần khí (spirit, tâm hồn, tâm linh). Đối tượng của tôn giáo là cái TÂM chứ không phải phần thân xác, và cái chết thân xác là chuyện tự nhiên theo lý vô thường, chỉ có cái chết của tâm hồn thanh khiết (tâm linh), mới là điều quan trọng để nói tới.
Trong phúc âm thánh Luke, cũng có một đoạn nói tới cái chết thân xác và cái chết tâm linh:
“Ðức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã". Ðức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Ðại Thiên Chúa". (Lk 9:59-61)
Ở câu nói “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết” , ta có thể hiểu chữ “kẻ chết”thứ nhất là kẻ chết về tâm linh (nhưng xác thịt vẫn còn sống), và chữ “kẻ chết” thứ hai là “kẻ chết xác thịt”. Đối với Kitô giáo, hầu hết con người đều mang tội lỗi [1] nên đều là những “kẻ chết tâm linh”, tuy xác thịt còn sống. Và ý nghĩa toàn câu nói là : cứ để kẻ đã chết tâm linh (là những con người đang sống trong thế giới thiện/ác này) chôn kẻ đã chết xác thịt [2]
Nếu gột bỏ được tội lỗi là phục hồi được tâm hồn thanh khiết, lương thiện, cũng là được “tái sinh” vậy.
Trở lại với đoạn văn đối thoại giữa đức Jesus và ông Nicodemus, đức Jesus nói “nếu không sinh ra bởi nước và thần khí” thì không thể vào nước Trời, hẳn ý ngài muốn nói, nếu muốn vào nước Trời thì phải gột rửa tội lỗi (tượng trưng bằng nước), và mang vào mình cái thần khí (của Thiên Chúa, tức là Tình Yêu)
“Nước và thần khí” mang ý nghĩa gì? Trong lá thư thứ 1 của thánh Phêrô, có nói tới “nước và thần khí” [3] như sau:
”… thời ông Nô-ê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. Nước đó là hình bóng làm phép rửa nay cứu thoát anh em. Nhờ phép rửa này, không phải là anh em được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Ðức Giêsu Kitô” (1Pr 3:20-21)
Ý nghĩa của chữ “nước” trong đoạn văn này là muốn nói tới sự gột rửa tội lỗi, tượng trưng bằng nước của trận đại hồng thủy đã diệt trừ “loài người đã mang tội lỗi” (đã mang cái chết tâm linh), chỉ còn để lại ông Nô-ê và gia đình là còn dấu hiệu của lương tâm trong sạch, cũng là tượng trưng cho còn “sự sống” tâm linh.
”Chính Ðức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi, Ðấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh.” (1Pr 3:18)
“Thần khí” là thiên tính của Thiên Chúa, tượng trưng cho Thiên Chúa, và cũng có thể hiểu là Tình Yêu, vì “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và trong Kitô giáo chữ Tinh Yêu được hiểu là “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”. Như vậy, chính nhờ có Tình Yêu tha nhân mà đức Jesus đã phục sinh, và chữ “phục sinh” có thể hiểu là sự sống lại của "Tình Yêu" trong loài người mà trước đó coi như đã bị chết. Hai chữ "Tình Yêu" này tượng trưng cho đức Jesus, nên Tình Yêu phục sinh cũng là chúa Jesus phục sinh.
3.- Sự Sống Đời Đời.
Xin tóm tắt cái vòng “sinh - tử - tái sinh” về tâm linh như dưới đây:
Khởi đầu, khi mới được khai sinh, ông Adam chưa mang tâm phân biệt, nên chưa biết phân biệt thiện/ác, vui/buồn, yêu/ghét…. Khi ấy tâm hồn ông thanh khiết như tờ giấy trắng tinh. Đó là hạnh phúc nơi Eden, và tâm hồn như thế tượng trưng cho “sự sống”.
Nhưng có điều là lúc ấy ông Adam không hề biết (vô minh) cái hạnh phúc vốn có đó vì… chưa trải nghiệm qua đau khổ, cho nên cái sắc trắng tinh khiết của tâm hồn ấy bị bôi bẩn dễ dàng vì cám dỗ (bởi lời dụ dỗ của con rắn), và ông bước qua thế giới có ÁC có THIỆN, tức là biết phân biệt thiện/ác hay phân biệt TA/NGƯỜI, từ đó có tham sân si, kiêu mạn, ganh tị và tranh giàng, xung đột…. Cái thế giới của tâm phân biệt và thiện/ác này là “cõi chết” của tâm hồn.
Sống trong thế giới phân biệt TA/NGƯỜI, THIỆN/ÁC, hay “cõi chết” của tâm hồn, con người trải nghiệm qua bao phiền muộn, đau khổ, bất an…, nên mệt mỏi… tìm đường trở về mái nhà xưa, là cái vườn Eden mà ông Adam đã làm mất. Tìm về là phải tẩy rửa các vết nhơ để trở lại sắc trắng tinh của tâm hồn ban đầu. Được như vậy coi như là từ “cõi chết” trở về, hay là sự “tái sinh” của tâm hồn vậy. Đó cũng là ý nghĩa “hồi đầu thị ngạn” hay “phản bổn hoàn nguyên” trong Phật giáo.
Nếu đã được “tái sinh” như thế, tâm hồn con người sẽ không còn “bị chết” nữa, vì lý do dễ hiểu là đã trải qua kinh nghệm từ “cõi chết” nên không còn vô minh như ông Adam lúc ban đầu. Đó là ý nghĩa của cuộc “sống đời đời”, một tặng phẩm hay ân sủng cho những ai biết sống vì Tình Yêu, hay Thiên Chúa, vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Chữ Tình Yêu đây là “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”.
Khi mọi người đều biết “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình” cũng là vị tha, không vị kỷ, thì không còn tham lam, sân hận, ganh tị… không tranh giành, xung đột, không mưu mô, thủ đoạn để hại nhau… Đó chính là bình an, hạnh phúc… Và cuộc sống bình an, hạnh phúc ấy lại được chuyển tiếp từ thế hệ này tới các thế hệ sau, từ đời này qua đời khác: đó là ý nghĩa của “sự sống đời đời”, hay "hạnh phúc đời đời" vậy.
“Yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”, đó là tâm đạo , một bài học có vẻ đơn giản nhưng vô cùng khó thuộc. Cả rừng kinh điển chỉ nhắm đến cái đích ấy./.
Duy Đức
(June/2009)
____________
[1] Giải thích theo kinh điển thì “tội lỗi” là do phản bội, chối bỏ Thiên Chúa. Nếu hiểu “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, thì “tội lỗi” mang ý nghĩa chối bỏ Tình Yêu. Hai chữ Tình Yêu trong Ki-tô giáo mang nghĩa “yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình”. Như vậy:
Tội lỗi là do --> chối bỏ Thiên Chúa = chối bỏ Tình Yêu = yêu TA hơn yêu NGƯỜI = phân biệt TA/NGƯỜI = tâm nhị nguyên.
Tới đây, xin trở lại một chút với “tội tổ tông” mà ông Adam phải mang nặng muôn đời, với tội danh thường được nói tới là “phản bội”, “chối bỏ”, hay “bất phục tùng” Thiên Chúa. Cũng với ý niệm “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, nếu ta lấy chữ TÌNH YÊU thay cho từ THIÊN CHÚA, thì tội của ông Adam đổi thành tội “phản bội”, “chối bỏ” hay “bất phục tùng” TÌNH YÊU, mang một ý nghĩa có vẻ phổ quát hơn, dễ chấp nhận hơn dù với người không mang niềm tin Ki-tô giáo. Cách giải thích cũng đơn giản: Khi ông Adam phát khởi tâm phân biệt thiện ác, cũng chính là ông phát khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI, là ông “yêu TA hơn NGƯỜI khác”,trái ngược hẳn với ý nghĩa của hai chữ TÌNH YÊU trong Ki-tô giáo là “yêu NGƯỜI như yêu chính TA”. Như vậy là ông đã chối bỏ TÌNH YÊU, nên cũng có nghĩa là ông chối bỏ Thiên Chúa. Và tới ngày nay con người cũng vẫn tiếp tục chối bỏ Tình Yêu như vậy, cho nên mọi con người đều mang tội lỗi, hay đúng hơn là mang mầm mống của tội lỗi.
Chối bỏ Tình Yêu như vậy là căn nguyên của xung đột, chiến tranh, bất hạnh, tội ác. Nuôi dưỡng và phát triển Tình Yêu như vậy là hòa bình, hạnh phúc, bình an, là không còn tội ác, vìkhi "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10). Sau này chính đức Jesus đã rao giảng tình yêu như thế, với mục đích để cứu nhân loại khỏi tội ác, và ngài đã hi sinh cả thân mình cho sứ mạng đó. Đó là ý nghĩa của ba chữ "Chúa Cứu Thế" mà nhân loại đã trân trọng khi xưng danh ngài. Và cây thập tự giá nơi ngài đã hi sinh thân mình một cách thánh thiện như thế được gọi là "Thánh Giá".
[2] Trong câu đối thoại “…Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã". Ðức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Ðại Thiên Chúa".(Lk 9:59-60)
─ nếu hiểu theo nghĩa thế gian ta sẽ cho rằng đức Jesus đã khiến cho người kia mang tội bất hiếu.
─ Nhưng ở đây phải hiểu theo nghĩa cao cả tột cùng của chữ tình yêu là “yêu tha nhân như yêu bản thân mình” mà đức Jesus rao giảng. Do đó nếu chỉ đặt tình yêu vào những gì “của TA” lên trên hết (như cha mẹ, vợ con, của cải… của TA) tức là còn “vị kỷ” thì không thể đạt được cái tình yêu “vị tha” tột cùng ấy. Vì người ấy đã chấp nhận đi theo chúa Jesus để loan báo triều đại Thiên Chúa (tức là truyền bá về tình yêu tha nhân), thì theo đức Jesus không nên để cái TA (ngã) hay CỦA TA (ngã sở) cản bước chân, mà tất cả mọi hành động của thân và tâm phải vì mọi NGƯỜI. Trong phúc âm thánh Luke có ghi lời đức Jesus nói về bổn phận của những người muốn theo bước chân ngài như sau: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lk 9:23), nghĩa là phải từ bỏ cái TA và CỦA TA để vì NGƯỜI (tha nhân), và hình ảnh “vác thập giá mình hàng ngày” mang ý nghĩa chấp nhận hi sinh những lợi ích cá nhân, có khi cả bản thân mình (như trường hợp chính bản thân đức Jesus) để phục vụ tha nhân. Đó là ý nghĩa “vị tha”.
Trong cái “vị tha” dĩ nhiên là bao gồm cả những người thân của mình, nhưng lúc này tình yêu bao trùm hết không còn tâm phân biệt TA/NGƯỜI hay của TA/của NGƯỜI nữa. Đó là đích đến, là nước Thiên Chúa.
[3] ”Chính Ðức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi, Ðấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh. (19) Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, (20) tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nôê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. (21) Nước đó là hình bóng làm phép rửa nay cứu thoát anh em. Nhờ phép rửa này, không phải là anh em được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Ðức Giêsu Kitô, (22) Ðấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thân mình phải phục quyền” (1Pr 3:18-22)