UẨN và GIỚI
(NGŨ UẨN và THẬP BÁT GIỚI)
1.- NGŨ UẨN.
 
Ngũ uẩn năm nhóm tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân, trí và tâm.Năm yếu tố ấy là “sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Hai chữ “ngũ uẩn” cũng thường được dùng để tượng trưng cho một con người, như ta thường nghe “thân ngũ uẩn” hay gọn hơn là “ngũ uẩn” hoặc có khi chỉ cần một chữ “uẩn”. Riêng chữ “uẩn” có khi còn được dùng để thay chữ TA.
 
Trong “sắc thọ, tưởng, hành, thức”, sắc là phần xác thịt vật chất, còn lại bốn yếu tố kia là phần tinh thần của con người gồm TRÍ và TÂM. Năm thành phần được xếp theo thứ tự vận hành trước sau của cả tập hợp:
 
[1]- SẮC UẨN: là phần xác thịt vật chất của con người, nơi các nhóm tinh thần gá tựa vào. Thường còn được gọi là thân "tứ đại" gồm bốn thành phần "đất, nước, gió, lửa", tượng trưng cho sự "sống xác thịt" của con người.
 
[2]- THỌ UẨN :  gồm “thân thọ” (cảm thọ về thân) và “tâm thọ” (cảm thọ về tâm) [1] :
 
              -- Thân thọ: là sự tiếp nhận các trần cảnh (hiện tượng bên ngoài tức lục trần “sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp”) thông qua lục căn. Sự tiếp nhận này có tính khách quan. Ví dụ nhìn thấy một bông hoa, ta chỉ ghi nhận đó là một bông hoa có sắc có hương như thế, ai thấy cũng như ai, không có yêu ghét… kèm theo.
 
                -- Tâm thọ: kế tiếp “thân thọ”, thường tâm con người sẽ nổi lên tình cảm đối với trần cảnh mới tiếp nhận đó, như yêu ghét, vui buồn… gọi là “tâm thọ”, có tính chủ quan vì tình cảm mỗi người mỗi khác. Ví dụ khi nhìn thấy một người nào đó, ngoài hình tướng ai nhìn thấy cũng vậy (thân thọ), cũng có khi ta còn bộc lộ tình cảm yêu, ghét, giận,… (tâm thọ) đối với người đó.
 
[3]- TƯỞNG và [4]- HÀNH UẨN:
 
Khi có một “cảm thọ về thân” đối với một trần cảnh nào đó, thì tiếp theo là sự so sánh đối chiếu "trần cảnh mới tiếp nhận ấy" với những gì đã xảy ra trước kia (chứa trong tàng thức, hay ký ức, hiểu nôm na là bộ nhớ), bằng cách tưởng nhớ lại quá khứ. Đó là “TƯỞNG UẨN”.
 
Sự tưởng nhớ lại quá khứ và so sánh với trần cảnh mới tiếp nhận, đưa tới kết quả:
 
─ Nếu chỉ thuần về “thân thọ”: Những kinh nghiệm được tưởng nhớ lại trong quá khứ giúp ta giải quyết nhanh lẹ, hợp lý và hiệu quả đối với trần cảnh hay sự việc mới tiếp nhận:
 
Ví dụ :chẳng may  bị một lưỡi dao cắt vào tay chảy máu và cảm thấy đau (thân thọ), ta nhớ lại (tưởng) trước kia đã từng bị hoặc đã giúp một người khác, hay đã từng quan sát sự chữa trị vết thương tương tự như thế. Điều đó giúp ta hành động mau chóng để chữa vết thương kỳ này, đó là “HÀNH UẨN”. Như vậy là nhờ "tưởng" đưa tới "hành".
 
─ Nhưng thường thì khi có một “thân thọ”, lại phát sinh ra “tâm thọ” (tình cảm) kèm theo. Chính "tâm thọ" mới quan trọng vì đó là vui/buồn, sướng/khổ, ân/oán, thương/ghét... là phiền não. Lấy một ví dụ dưới đây để minh họa:
 
Ví dụ: khi mắt ta nhìn thấy một người nào đó, lập tức hình ảnh ấy được so với những hình ảnh tàng trữ trong ký ức, bằng sự tưởng nhớ lại, và… khi khám phá ra trong quá khứ chính con người ấy đã từng làm ta đau đớn, thế là tình cảm “ghét, giận, oán thù…” tức là “cảm thọ về tâm” xuất hiện.
 
“Tưởng” không hẳn chỉ là tưởng nhớ quá khứ, mà còn tưởng tượng ra tương lai. Cũng trong ví dụ trên, sau khi tình cảm “ghét, giận, oán thù…” xuất hiện, ta vạch ra (tưởng tượng) những hành động sẽ làm đối với con người ấy, căn cứ vào tình cảm do “tâm thọ” thúc đẩy, có thể là chửi mắng, trả thù, cũng có thể là sợ hãi trốn tránh… Thế là có hành động như thế xảy ra do sự thúc đẩy của tình cảm. Đó là “HÀNH UẨN”.
 
[5]- THỨC UẨN:  Sau cùng tàng thức (ký ức) ghi nhận lại tất cả kết quả của THỌ, TƯỞNG, HÀNH như là những kinh nghiệm mới bổ sung, dành lại cho sau này. Đó là “THỨC UẨN”.
 
Và cứ thế, cái vòng “thọ --> tưởng --> hành --> thức” lại diễn ra với trần cảnh khác, và mỗi lần như thế, ký ức lại được bổ sung với những kinh nghiệm mới, ngày càng đầy hơn. Nhưng cũng nên chia cái vòng này ra làm hai:
 
-- Đối với TRÍ (chỉ có thân thọ): cái vòng thọ- tưởng - hành - thức càng vận chuyển nhiều thì càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm về TRÍ óc, giúp cho con người ngày càng tiến bộ về các ngành học khách quan, như văn học, nghệ thuật, xã hội hay khoa học kỹ thuật... Ngày nay chúng ta cũng thấy, khoa học ngày càng tiến bộ nhanh nhờ những kinh nghiệm tích lũy ngày một nhiều, đã giúp con người giảm thiểu phần nào cái đau về thể xác. Giảm thiểu được cái đau thể xác cũng giúp cho bớt được phần nào cái khổ trong tâm hồn.
 
-- Đối với TÂM (tâm thọ) thì lại ngược lại: cái vòng thọ - tưởng - hành - thức càng xoay vòng nhiều lại càng tích lũy nhiều những ân oán, vui buồn, sướng khổ, yêu ghét... lại càng làm tăng thêm phiền não, là điều mà người tu Phật tìm cách loại trừ,để giữ cho tâm hồn được trống trải thanh tịnh.  
 
Vận hành của “ngũ uẩn” cứ như thế cho mỗi con người, và chúng tượng trưng cho một con người gồm xác thân và tinh thần (thân, trí và tâm). Và chữ NGŨ UẨN cũng còn được dùng để chỉ cá nhân một CON NGƯỜI (thân ngũ uẩn, hoặc ngũ uẩn, hoặc gọn hơn là uẩn), hay có khi nói thay cho chữ TA, hay thân TA.
 
2.- THẬP BÁT GIỚI.
 
Con người có lục căn là “nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý”. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần “sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”, sinh ra lục thức:
 
Căn + Trần --> Thức
 
Ví dụ, khi mắt (nhãn căn) nhìn thấy một vật A (sắc trần) thì hình ảnh ấy được ghi nhận và lưu lại trong tiềm thức hay tàng thức (ký ức, bộ nhớ) như là một kinh nghiệm có thể sẽ được sử dụng tới sau này nếu có gặp lại A hay một vật tương tự.
 
─ Mỗi căn trong lục căn có “một lãnh vực hoạt động riêng để thấy” (nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy…) gọi là “giới”. Ví dụ mắt chỉ nhìn thấy trong phạm vi “hình và sắc” nên gọi là “nhãn giới”; tai chỉ nghe thấy trong phạm vi tiếng động, gọi là “nhĩ giới”… Và với lục căn ta có :

6 “căn giới” : nhãn giới, nhĩ giới, tỉ giới, thiệt giới, thân giới, ý giới.
 
─ Lục trần là những thứ “bị thấy” hay “để cho thấy”, cũng hợp thành lãnh vực riêng, gọi là “giới” khác. Ví dụ “vật có sắc hình” bị nhìn thấy bằng mắt nên gọi là “sắc giới”; âm thanh được nghe thấy bằng tai, gọi là “thanh giới”… Và với lục trần ta có:

6 “trần giới”: Sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc giới, pháp giới.
 
─ Với lục thức, kết quả khi lục căn tiếp xúc với lục trần sinh ra những “cái thấy biết”, cũng hợp thành một lãnh vực riêng, một “giới” riêng, goị là “thức giới”. Ví dụ mắt (chủ động) nhìn thấy vật có hình sắc (cái bị thấy) sinh ra nhận thức về hình ảnh của vật, và ta gọi là “nhãn thức giới”. Với lục thức ta có:

6 “thức giới”: Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỉ thức giới, thiệt thức giới,
xúc thức giới, ý thức giới.
 
Tổng hợp chung là 18 giới gọi là “thập bát giới”. “Thập bát giới” bao gồm mọi thứ trong vũ trụ mà con người thấy biết được bằng lục căn, tượng trưng cho thế giới, bên ngoài một cá nhân là TA (hay uẩn), hay với nghĩa hẹp hơn để chỉ NGƯỜI khác (hay chúng sanh) khi muốn phân biệt với TA, ví dụ ta đã từng biết hai chữ Uẩn và Giới, mang nghĩa phân biệt đối đãi giữa TA và NGƯỜI (hoặc TA và chúng sinh, hoặc TA với thế giới bên ngoài), trong câu kinh quen thuộc sau đây, nói về “tánh không hai”:
 
Một là thiện, hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, gọi là tánh không hai.
Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh
 
Ở đây, Uẩn và Giới dùng để diễn tả sự phân biệt giữa TA và NGƯỜI (hay nói rộng hơn là CHÚNG SANH), đức Phật muốn nói về cái tâm phân biệt TA/NGƯỜI của phàm phu (phàm phu thấy hai), còn người trí liễu không  mang tâm phân biệt ấy (đạt tánh của chúng không hai) nên đã đạt được Phật tánh.
 
DUY ĐỨC
Aug-2009
 
Home          Top
 
 
GHI CHÚ :

[1] Hai thứ cảm thọ của con người, như nói trong kinh Tương Ưng Bộ:

"...kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
.... bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ, thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm."
"Cảm thọ về thân" (thân thọ) qua giác quan (lục căn) có tính khách quan, ai cũng cảm nhận như ai, còn "cảm thọ về tâm" (tâm thọ) mang tính tình cảm rất là chủ quan, vì tình cảm mỗi người mỗi khác dù với cùng một đối tượng. 
-- Mỗi con người đời thường (kẻ vô văn phàm phu) có cả hai cảm thọ (thân và tâm): ngay sau khi cảm nhận "thân thọ" (qua lục căn) thì "tâm thọ" (tình cảm: buồn, vui, yêu, ghét, ân, oán...) phát sinh tiếp theo, và sai khiến lại cái thân hành động theo (than vãn, khóc lóc, trả thù...).
-- Với những vị đã có một trình độ tu tập nào đó (bậc Đa văn Thánh đệ tử), có thể đã loại bỏ được "tâm thọ" mà chỉ còn "thân thọ" mà thôi, cho nên không bị những tình cảm làm khuấy động, làm phiền não. Họ chỉ cảm nhận cái hiện tượng khách quan y như nó như vậy, không kèm theo hoan hỉ, sầu muộn, yêu, ghét, ân oán... cho nên không có những hành động tiếp theo do sự thúc đẩy của các tình cảm ấy (như than vãn, khóc lóc, trả thù...)


This website is powered by TipTopWebsite.com