VÔ THƯỜNG và TÁNH KHÔNG
---
1. VÔ THƯỜNG.
Vô thường là một luật tự nhiên của vũ trụ vạn vật, không thể có một vật nào có thể vĩnh viễn thường còn, định luật này hẳn là không có ngoại lệ.
Nhưng tưởng tượng rằng nếu vạn vật là “thường hằng” không biến đổi, thì quả thực cũng chẳng có gì là lý thú. Nếu tâm trí ta vẫn như hiện giờ, ta cũng khó mà thỏa mãn với mọi thứ, mọi sinh vật, trong đó có con người… không biến đổi: nụ hoa chưa nở thì đừng nở, đã nở thì cứ y như thế vĩnh viễn, mọi vật bất động vĩnh viễn, con người cũng vĩnh viễn như thế, như vậy. Nếu còn biết suy nghĩ thì chắc chắn con người sẽ ngán ngẩm vì nhàm chán. Như vậy thì thà rằng đừng biết suy nghĩ còn hơn, và “không suy nghĩ + không biến đổi” thì chẳng khác một cục đá không hao mòn. Thế thì... thà “vô thường”… còn sướng hơn!
Như vậy, xem ra không phải con người ghét cái sự vô thường, nhưng là muốn nhường cái mạng sống “vô thường” cho NGƯỜI khác, còn đối với chính bản thân TA thì được “thường còn”. TA muốn sống mãi trong khi NGƯỜI khác thì lần lượt ra đi, NGƯỜI thì bệnh tật già lão, còn TA thì mạnh khỏe dẻo dai, trẻ mãi không già. Đấy là cái hậu quả của
tâm phân biệt TA/NGƯỜI, ai cũng chỉ chăm chú vun đắp cho bản thân TA để mong hơn NGƯỜI mà thôi
.
Là một người bình thường, ai cũng nhận ra lý vô thường, ví dụ không ai là không nhận ra sự vô thường của một bông hoa…, nở, rồi trưởng thành với đầy hương sắc, rồi héo tàn…; hay là một con người…, sinh ra là một hài nhi, rồi lớn lên, rồi già/bệnh, rồi chết…; cho đến mặt trời mỗi giờ mỗi phút tự thiêu đốt vật chất để toả năng lượng xuống thế gian này, thì một ngày nào đó cũng phải cạn... Đó là quy luật! Chỉ có điều là biết thế rồi để đấy, chứ không vận dụng vào đời sống con người để làm giảm bớt sự níu kéo bám víu vào cái TA,… nếu nghĩ được ra rằng thân TA vô thường, có đó rồi không đó, “sắc sắc, không không”, “mảnh hình hài không có, có không”, thì có đáng gì để phải tranh giành, đấu đá nhau để rồi sanh ra bao phiền muộn cho cuộc đời.
2.- TÁNH KHÔNG.
-- Ngoại không: “Vô thường” bàng bạc mang nghĩa “không” về thân xác con người. Chữ “không” này không phải là không có, mà mang ý nghĩa đời người ngắn ngủi, có đó rồi không đó, “sắc sắc, không không”, hợp rồi tan,… như hai câu thơ của nhà thơ Cao Bá Quát:
Khoảnh trời đất cổ kim, kim cổ.
Mảnh hình hài không có, có không.
Nhưng đó là cái không về thân xác hay “thân ngũ uẩn”. Đối với vật chất khác, nhất là những thứ liên quan mật thiết tới mỗi người như là người thân, tiền bạc, của cải,… cũng vậy. Nói chung đây là cái “không” của lục trần, mang nghĩa có đó rồi mất đó (vô thường), còn gọi là “ngoại không”.
-- Nội không: Đối với Phật giáo, cái đối tượng chính là
TÂM, là cái bên trong, khác với thân xác và những thứ bên ngoài. TÂM mới chính là nơi đưa ra những phiền não. Dưới đây xin tìm hiểu chữ “không” đối với TÂM, mà ta thường nghe tới chữ “tánh không” là cái không ở nội tâm, cũng gọi là “nội không”, khác với chữ “không” của thân xác cùng vạn vật bên ngoài là “ngoại không”.
Con người vì đã sống quen với tâm nhị nguyên, tâm phân biệt TA/NGƯỜI, ưu tiên của cái TA và sở hữu của TA được coi là một sự đương nhiên, nên phiền não và đau khổ sinh ra, như tóm tắt dưới đây:
DUY NGÃ ĐỘC TÔN
(phân biệt TA/NGƯỜI)
↓
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
↓
(Tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo...)
↓
Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, THIỆN/ÁC…
↓
Vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, giàu/nghèo, bạn/thù, ân/oán, thân/sơ…(phiền não)
Thế nhưng, tâm con người khởi đầu không phải như vậy, mà giống như tâm ông Adam hay tâm của trẻ thơ, chưa hề mang tánh nhị nguyên phân biệt Thiện/Ác, tức là chưa mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI (hay “duy ngã độc tôn”), nên không hề bị dao động, vướng mắc về những tình cảm đối nghịch phân hai như hơn/thua, yêu/ghét, thiện/ác... là những phiền não. Cái tâm ấy gọi là bản tâm, hoàn toàn trống trải, mà Lục tổ Huệ Năng nói là "bản lai vô nhất vật".
Vì không mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI nên tâm con người ban đầu (bản tâm) trống trải thanh tịnh, không vướng những tình cảm vui buồn, sướng khổ, khinh trọng, ân oán…, xin được giải thích như sau:
Vì…
Không phân biệt TA/NGƯỜI (không TA không NGƯỜI, hay không yêu TA hơn NGƯỜI khác, hay yêu NGƯỜI như yêu TA)
Nên …
Không tham, Không sân, Không si, Không kiêu man, Không ganh tị…
Do đó…
Không tranh giành, Không xung đột, Không mưu mô, Không thủ đoạn, Không lừa dối…
Không được, không mất; Không hơn, không thua; Không thắng, không bại...
Nên… không mang những tình cảm nhị nguyên phân biệt sau đây:
Không hoan hỉ, Không sầu muộn, (lời đức Phật: “không hoan hỷ, không sầu muộn, ta được tự tại)
Không thiện, Không ác (lời đức Phật: không thiện không ác là tánh không hai, là Phật tánh)
Không hạnh phúc, Không khổ đau, (cũng giống như không hoan hỉ, không sầu muộn)
Không thường, Không vô thường (an nhiên tự tai, không bận tâm tới thường hay vô thường)
Không khứ, Không lai (không hối tiếc qúa khứ, không kỳ vọng ở vị lai)
Không sanh, Không diệt (không sợ hãi cái chết, vì không có gì để hối tiếc)
Không ân, Không oán, (vì không tham, sân, kiêu, ganh tị)
Không thân, Không sơ (mọi người đều bình đẳng)
Không nhơ, Không sạch (không xấu, không tốt)
Không thêm, Không bớt (không so bì hơn, kém)
Không giàu, không nghèo (không ham giàu, không ghét nghèo)
..................
... và tổng quát hơn là:
KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG….
[1]
Cái tâm "KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG” là cái tâm vắng bóng những tình cảm phân biệt, cái tâm “trống không” không vướng phiền não. Đó là tính chất của bản tâm và cũng chính là
"tánh không hai", là "trung đạo", là "vô ngã" . Ngày nay vì đã sống quen với tâm nhị nguyên, sự ưu tiên của cái TA (ngã) và sở hữu của TA (ngã sở) được coi là một sự đương nhiên, ta khó tưởng tượng con người lại có thể sống với cái tâm trống trải là tâm bất nhị như thế. Nhưng thực sự đó mới chính là cái bản tâm thanh tịnh (cũng gọi là chân ngã, chân như, chân tâm, tự tánh, hay Phật tánh) không nhuốm phiền não. Con người sống quay cuồng vì thiện ác, buồn vui, sướng khổ... hẳn cũng có lúc mệt mỏi chán chường mà tìm quay về với cái chân tâm mang tánh KHÔNG trống trải ấy.
Trở lại với cụm từ “KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG” nói trên, đó chính là cụm từ diễn tả “tánh không hai”, và với dẫn chứng dưới đây cụm từ đó cũng diễn ta “tánh không”.
Trích trong kinh Đại Niết Bàn:
"Nầy Thiện nam tử ! Phật tánh đã gọi là đệ nhứt nghĩa không, đệ nhứt nghĩa không gọi là trí huệ.
Không đây là chẳng thấy không cùng bất không. Người trí thấy không và bất không, thường cùng vô thường, khổ với lạc, ngã cùng vô ngã. Không là nói tất cả sanh tử. Bất không là nói Đại Niết Bàn. Nhẫn đến vô ngã chính là sanh tử. Ngã đó chính là Đại Niết Bàn"
Dưới đây xin phân tích cách dùng chữ nghĩa… ngược xuôi, xuôi ngược trong câu kinh “không đây là chẳng thấy không cùng bất không”, để tìm ý nghĩa liên quan tới “tánh không” nói trên:
─"Không đây là chẳng thấy không cùng (chẳng thấy) bất không": câu này có thể viết một cách khác “Không đây là KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG”, vì:
Chẳng thấy không: là KHÔNG KHÔNG.
Chẳng thấy bất không: là KHÔNG CÓ (vì “bất không” là “có”)
─ “Phật tánh đã gọi là đệ nhất nghĩa không” , nên nghĩa “tánh không” là Phật tánh.
─ Mặt khác, ta cũng đã nghe “Phật tánh là tánh không hai (hay tâm bất nhị)” như lời đức Phật:
Thiện căn có hai: Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tánh thì chẳng phải thường, chẳng phải vô thường cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh
Hoan hỉ chỉ đến với người tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người tâm hoan hỉ. Không hoan hỉ không sầu muộn, tâm ta không dao động.
Và Lục Tổ Huệ Năng:
Ðừng nói có sáng , có tối . Ðừng hiểu rằng tu theo Ðạo là lấy Sáng trừ Tối , lấy Bồ Ðề phá Phiền Não , là vì phiền não tức bồ đề , chẳng khác nhau cũng chẳng phải hai . Nếu lấy trí huệ phá phiền não tức là chấp có hai của hàng Thanh Văn Duyên Giác . Hàng trí cao không thể làm như vậy . Ðối với sáng và tối, kẻ phàm thấy có hai , hàng Ðại Thừa thấy "bất nhị" (không có hai). Tánh "bất nhị" là thực tánh chân như . Thực tánh nầy bình đẳng ở muôn vật , bất cứ ở đâu, ở phàm phu không bớt , ở hiền thánh không thêm , ở phiền não không loạn, ở thiền định không lắng . Cái thấy "bất nhị" tuyệt đối ấy chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng đi, chẳng đến, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài , chẳng ở giữa, chẳng sinh, chẳng diệt , chẳng động , thường trụ chẳng dời . Ðó là Ðạo .
“…Điều lành (thiện) điều dữ (ác) tuy là khác nhau, chớ cái bản tánh không hai. Cái tánh không hai gọi là Thật Tánh. Trong cái Thật Tánh chẳng nhiễm điều lành điều dữ, ấy gọi là viên mãn báo thân Phật”.
─ Như vậy:
Vì “tánh không” là Phật tánh,
và “tánh không hai” cũng là Phật tánh,
nên “tánh không” cũng chính là “tánh không hai”, cùng là Phật tánh, là bản tâm của con người.
Trong các câu kinh trên,… không thiện/không ác, chẳng thường/chẳng vô thường, không hoan hỉ/không sầu muộn, không uẩn/không giới (không TA/không NGƯỜI), không sáng/không tối (không tốt/xấu), không bồ đề/không phiền não (không hạnh phúc/không ưu phiền), không sinh/không diệt, chẳng đi/chẳng đến (bất lai/bất khứ)… là những tính chất của “tánh không hai” nên cũng là tính chất của “tánh không”
Ngày nay chúng ta sống trong thế giới có ác có thiện, có buồn có vui, có ân có oán… và cho đó là thường tình là tự nhiên, nhưng đứng về mặt đạo thì đó là những phiền não, chúng che lấp bản tâm hay Phật tánh. Không thiện/không ác, không hoan hỉ/không sầu muộn, không ân/không oán… là “tánh không hai” cũng là “trung đạo” , là “vô ngã”, là “bản lai diện mục”, cũng chính là Phật tánh, và cũng là “tánh không”. Đó là những tánh chất của Niết bàn [2] ./.
DUY ĐỨC
Sep/2009
________
[1] Trong kinh sách Phật giáo, đôi khi chỉ dùng cặp từ CÓ / KHÔNG để diễn tả những cặp “nhị nguyên”, ví dụ:
▪ hoan hỉ / sầu muộn, …….có thể viết là: ……… CÓ hoan hỉ / KHÔNG hoan hỉ
▪ hạnh phúc / khổ đau, …...có thể viết là: ……… CÓ hạnh phúc / KHÔNG hạnh phúc
▪ thường / vô thường, ……có thể diễn tả là …. .. CÓ thường / KHÔNG thường
▪ thiện/ác ………………….có thể viết ………….. CÓ thiện / KHÔNG thiện
Khi chuyển đổi thành “bất nhị”, ta có:
▪ không hoan hỉ / không sầu muộn …. có thể viết … KHÔNG CÓ hoan hỉ / KHÔNG KHÔNG hoan hỉ.
▪ không hạnh phúc / không khổ đau … có thể viết … KHÔNG CÓ hạnh phúc / KHÔNG KHÔNG hạnh phúc.
▪ không thường / không vô thường …. có thể viết … KHÔNG CÓ thường / KHÔNG KHÔNG thường.
▪ không thiện / không ác ……………… có thể viết … KHÔNG CÓ thiện / KHÔNG KHÔNG thiện
Do đó, ta cũng nghe cặp từ KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG, là một cách diễn tả tổng quát cái tánh Không, hay bất nhị.
[2] Niết bàn còn được nói với các tánh chất là “thường, lạc, ngã, tịnh”, tuy là cách nói khác, nhưng cũng cùng một ý nghĩa, như dưới đây:
1- THƯỜNG:
Thiện/ác, yêu/ghét, vui/buồn… có tính biến đổi, nên là VÔ THƯỜNG.
Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… là đứng ở vị trí giữa (trung đạo) không ngả về bên nào cả, nên không còn mang nghĩa vô thường nữa, do đó là THƯỜNG. Vì không còn vướng bận hay dao động với thiện ác, yêu ghét, vui buồn... nên không phiền não. Đó là ý nghĩa của chữ THƯỜNG trong “thường, lạc, ngã, tịnh”.
Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… chính là tánh không hai, hay trung đạo.
2- LẠC:
Đời sống phàm phu có vui có khổ, nhưng cảnh Niết bàn lấy sự không khổ/không vui làm cái đại lạc. Đó là cái nghĩa LẠC trong “thường, lạc, ngã, tịnh”.
"Niết Bàn vốn không có sự vui (phàm phu), do vì bốn điều vui (thường, lạc, ngã, tịnh) nên gọi là đại Niết Bàn. Một là vì dứt những sự vui (phàm phu) , chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thiệt vuị. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết Bàn không khổ không vui nên Niết Bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết Bàn."
3- NGÃ :
Đức Phật nói “ngã” đây là chỉ Phật tánh, và ngài thường dùng chữ
ngã chân thật hay “chân ngã”, cùng nghĩa với “bản tâm”, “chân tâm”, “chân như”, hay là “bản lai diện mục”.
4- TỊNH:
là tính chất bình an, tự tại, không vướng mắc phiền não khi đã trở về cái “bản tâm” hay “chân ngã”. Lúc này là đã trở về cái tâm trống trải ban đầu (cũng gọi là bản lai diện mục), không chứa những phân biệt nhị nguyên hơn/thua, được/mất, yêu/ghét, ân/oán... nên gọi là "thanh tịnh", hay "tịnh".