BÁT NHÃ TÂM KINH và TÁNH KHÔNG

 1.- BÁT NHÃ TÂM KINH.

[1] “Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

[2] Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

[3] Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lãotử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

[4]  Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn, Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

[5] Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
[6] Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề.Tát bà ha.”

2.-DỊCH NGHĨA (theo bản dịch của hoà thượng Thích Trí Thủ ), và… “DIỄN NGHĨA”.

[1]  "Bồ tát Quán tự tại khi hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách."
Đây là câu mở đầu, giới thiệu tổng quát về lợi ích của tâm KHÔNG :
Bồ tát Quán tự tại, khi nhận ra thân năm uẩn (cái TA) là KHÔNG, thì ngài vượt qua mọi khổ ách. Ch KHÔNG ở đây gồm hai phương diện:
- Ngoại không:  KHÔNG về thân xác, chủ yếu liên quan tới lý vô thường: thân xác vô thường CÓ đó rồi KHÔNG.
- Nội không:        KHÔNG nơi nội tâm, không còn vướng mắc được/thua, thắng/bại, thiện/ác, vui/buồn..., tức là trở về với tánh không hai.
Khi nhận ra tánh vô thường của thân xác, và để tâm không vướng mắc phân biệt nhị nguyên Ta/Người, được/thua, thắng/bại, thiện/ác, vui/buồn, qúá khứ/vị lai... thì con người vượt qua được khổ ách.
[2]  "Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy."

Đây là nói về “ngoại không” tức là cái không về thân TA hay thân ngũ uẩn, chữ không này mang nghĩa của vô thường. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là "ngũ uẩn" chỉ cá nhân một con người (thân ngũ uẩn), mà ta hay dùng chữ TA để thay thế. Con người hay "thân ngũ uẩn" thì mang tính vô thường. Theo lý vô thường và duyên hợp thì cái thân TA chỉ là tạm bợ, có hợp thì có tan, ngắn ngủi, nay có mai không (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc), nay còn mai mất (“sắc sắc - không không”) chỉ trong một thoáng chốc như bóng câu qua cửa (sắc tức là không, không tức là sắc),… Thế thì có đáng gì cho ta phải phiền não đau khổ vì nó. Khi nhận thức được như thế, ta cảm thấy nhẹ bớt những khổ não liên quan tới cái thân xác TA, bởi ta biết trước sau gì thân xác này cũng mất hay trở về  KHÔNG. Ngay cả vạn vật chung quanh cũng vô thường như thế. Thế thì có đáng gì để phải khổ công bám víu, níu kéo, giành giật về cho TA. Nhận ra được như thế thì ta sẽ giảm nhẹ lòng tham, sân, si. Giảm lòng tham, sân, si thì giảm tranh giành, xung đột…, không còn vướng mắc vào được mất, hơn thua, … vui buồn, ân oán,… như vậy là thoát ly được phiền não. Giảm được tham sân si là đúng đường đi tới Niết bàn, vì đức Phật nói "đồng nghĩa với Niết bàn là nhiệp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si".

Lời đức Phật: "Các Thầy nên tư duy tưởng vô thường, quảng bá tưởng vô thường. Ðã tư duy, quảng bá tưởng vô thường rồi, các Thầy sẽ đoạn dứt dục ái, sắc ái, vô sắc ái, cũng đoạn vô minh, kiêu mạn... Tỳ-kheo ngay khi tu tưởng vô thường, người ấy không có tâm dục, đã không có tâm dục, thì có thể phân biệt pháp, tư duy về ý nghĩa của nó, không có sầu lo, khổ não" (kinh Tăng Nhất A Hàm, Phẩm lực 1) [1]

[3] "Xá Lợi Tử! Tướng không các pháp đây, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt..."

Khi đã nhận thức được lý vô thường như trên, biết cái thân ngũ uẩn vô thường cũng sẽ mất trong chớp mắt thời gian, thì không còn vướng mắc vào được/mất, sinh/tử, xấu/tốt, hơn/thua, thiện/ác… Đó là tánh không hai (tâm bất nhị). Tánh không hai là Phật tánh . Cái ý “không hai” ấy được diễn tả trong câu kinh là :

"...Cho nên, trong không, không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc."

(Trong đoạn kinh này:
- "Sắc, thọ, tưởng, hành, thức" là ngũ uẩn, hay gọi tắt là UẨN, hay là TA.
- "Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hượng, vị, xúc, pháp; nhãn giới, nhĩ giới, tỉ giới... ý thức giới" là thập bát giới, gọi tắt là GIỚI, chỉ NGƯỜI hay là những gì ngoài cái TA,
như giải thích trong bài viết về ngũ uẩn và thập bát giới )

Đoạn này chủ yếu nói về “nội không” là cái KHÔNG ở TÂM hay là  “tánh không”, là cái KHÔNG quan trọng nhất, vì TÂM là đối tượng chính của đạo Phật.

Tới đây, xin trở lại một chút về ngũ uẩn và thập bát giới. Ngũ uẩn được hiểu như chữ TA mà ta thường nghe tới như là “thân ngũ uẩn” hay UẨN, và thập bát giới là chỉ thế giới bên ngoài, tượng trưng cho NGƯỜI (hay chúng sinh) và có khi dùng chữ GIỚI thay thế. Ví dụ: “UẨN và GIỚI phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai. Tánh không hai là Phật tánh”. UẨN và GIỚI ở đây tượng là cách nói khác của chữ TA và NGƯỜI (hay chúng sinh) là một cặp nhị nguyên đối đãi.

Trong mục [3] nói trên, có hai đoạn nói về ngũ uẩn và thập bát giới: 

─ không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức : tức là không UẨN (hay không TA)
─ không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (lục căn); không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (lục trần); không nhãn giới cho tới ý thức giới (lục thức): tức là không thập bát giới, nói gọn lại là không GIỚI hay không NGƯỜI.

Như vậy liên kết cả hai đoạn ta có “không UẨN không GIỚI” hay “không TA không NGƯỜI”. Đây là nói tới “tâm không phân biệt TA/NGƯỜI”, là tánh không hai hay tánh không (người viết đã đề cập trong bài viết về tánh không). Đạt được tâm không phân biệt TA/NGƯỜI là đạt được tâm bình đẳng giữa TA và NGƯỜI (hay mở rộng ra là TA và CHÚNG SINH). Tâm bình đẳng giữa TA và NGƯỜI nghĩa là yêu Người như yêu chính bản thân TA, đưa tới không còn tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị… không tranh chấp, nên không hơn/thua, không thắng/bại… không được/mất, không thiện/ác, ân/oán. Tâm không phân biệt TA/NGƯỜI là tánh không hai (cũng là tánh không) là Phật tánh.
Khi đã không còn mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI là đạt tánh không hai, là Phật tánh, là giác ngộ,... tức là thoát khỏi vô minh, mọi vướng mắc nhị nguyên phân biệt đối đãi:
─ Chẳng sinh/ chẳng diệt       (không sợ hãi chuyện sinh diệt, vì không có gì phải nuối tiếc)
─ Chẳng nhơ/chẳng sạch       (không phân bì hay lo nghĩ về xấu tốt)
─ Chẳng thêm/chẳng bớt          (chẳng so bì hơn thua)
─ Chẳng vô minh / chẳng không vô minh       (người vô minh hay minh đi với ta cũng như nhau)
─ Chẳng già chết / chẳng không già chết       (không quan tâm sợ hãi cái chết vì không có gì vướng mắc hay hối tiếc)
─ Không khổ / không hạnh phúc       (không hoan hỉ không sâù muộn tâm ta được tự tại, lời đức Phật)
─ Không trí / không ngu         (đối với ta, người trí người ngu cũng đối đãi như nhau, không phân biệt)
─ Không được (không đắc) / không mất     (không vướng mắc vào chuyện được mất, vì đó là phiền não)….
Và chắc chắn là không còn tranh giành, xung đột..., nên không được/mất, hơn/thua, thắng/bại,... do đó:
Không hoan hỉ, Không sầu muộn, (lời đức Phật: “không hoan hỷ, không sầu muộn, ta được tự tại)
Không thiện, Không ác (lời đức Phật: không thiện không ác là tánh không hai, là Phật tánh)
Không hạnh phúc, Không khổ đau, (cũng như không hoan hỉ không sầu muộn)
Không thường, Không vô thường (an nhiên tự tai, không bận tâm tới thường hay vô thường)
Không khứ, Không lai (không hối tiếc qúa khứ, không kỳ vọng ở vị lai, chỉ chú tâm vào hiện tại, là trung đạo))
Không sanh, Không diệt (không sợ hãi cái chết, vì không có gì để hối tiếc)
Không ân, Không oán, (vì không tham, sân, kiêu mạn, ganh tị)
Không thân, Không sơ (mọi người đều bình đẳng)
Không nhơ, Không sạch (không xấu, không tốt)
Không thêm, Không bớt (không so bì hơn, kém)
Không giàu, không nghèo (không ham giàu, không ghét nghèo)… 
Đây là ý nghĩa của “KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG” là “tánh không hai” hay “tánh không”. Đạt được “tánh không hai” hay “tánh không” là trở về được với Phật tánh, là giác ngộ, là vượt qua khổ ách, phiền muộn. Tánh không hai chính là tâm không phân biệt TA/NGƯỜI, yêu NGƯỜI như yêu TA, là vị tha không vị kỷ, nên không còn tham, sân, kiêu mạn, ganh tị…, do đó không còn mong cầu, không ước muốn được cái gì riêng cho TA (vô sở cầu, vô sở đắc)
[4]  Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không mắc ngại; vì tâm không mắc ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) nương Bát nhã ba la mật đa nên chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Do không còn mong cầu, không ước muốn được cái gì cho riêng TA (không vị kỷ), nên tâm được giải thoát mọi ràng buộc của tham sân si, do đó cũng không còn vướng mắc những trở ngại, không sợ hãi, không điên đảo… đó là giải thoát là giác ngộ, là Phật tánh, là niết bàn, cũng là chứng Phật quả “vô thượng, chánh đẳng, chánh giác” . Trong kinh Kim Cang, đức Phật định nghĩa Phật quả này như sau: “Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả [2]  mà tu hết thảy pháp lành, tức thành vô thượng chánh đẳng chánh giác”
─ Vô thượng : không có cao thấp, nghĩa là tâm không phân biệt.
─ Chánh đẳng : là bình đẳng tuyệt đối, không còn tâm phân biệt TA/NGƯỜI, TA/chúng sinh, TA/thọ giả [2] , nói gọn lại là không còn chấp ngã, không còn mang tâm duy ngã độc tôn, đó cũng là vô ngã.
─ Chánh giác : giác ngộ chân chánh, khi không còn mang tâm phân biệt (vô thượng, chánh đẳng) là giác ngộ chân chánh.

[5]  Nên biết Bát nhã ba la mật đa là chú thần lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật vì không dối.

Đây là con đường duy nhất đoạn trừ mọi khổ ách để vượt qua bờ bên kia, tức là bở giác.
[6] Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa, nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha.)
Đây là lời mời gọi mọi người hãy theo pháp này để  qua bờ bên kia, tức là ba-la-mật, đáo bỉ ngạn, hồi đầu thị ngạn: “Qua rồi, qua rồi, qua bờ rồi, tất cả qua bờ bên kia rồi, giải thoát rồi, chào mừng!
Bát nhã ba-la-mật đa tâm kinh chủ yếu nói về tánh không, mà quan trọng nhất là tâm không phân biệt TA/NGƯỜI (không phân biệt UẨN/GIỚI). Khi không còn tâm phân biệt TA/NGƯỜI thì người cũng như ta, bình đẳng, "yêu tha nhân cũng như yêu bản thân mình", do đó không tham sân si, kiêu mạn, ganh tị,... không tranh giành, không xung đột,... không được mất, không hơn thua, không thắng bại,... không vui buồn, không thiện ác, không ân oán... do đó mọi phiền não không còn. Đó là trở về với cái bản tâm, tánh không hai, bản lai diện mục, là hồi đầu thị ngạn, là đáo bỉ ngạn,... là nghĩa ba-la-mật của Bát Nhã ba-la-mật, tức trí tuệ đưa ta trở về bờ bên kia, là bờ giác ./.
DUY ĐỨC
(Oct – 2009)
Home          Top
GHI CHÚ:

[1] Kinh Tăng Nhất A Hàm (Hoà thượng Thích Thanh Từ dịch, hoà thượng Thích Thiện Siêu hiệu đính)

[2] Thọ giả: hầu hết các bản dịch hán văn ghi chữ “thọ” là tuổi thọ, mạng sống.... Nhưng riêng có bản dịch của ngài Chân đế (giữa thế kỷ 16) thì chú giải “chữ thọ là chịu”, (ghi chú tại mục 7.b "Ngã Chấp Trong Kim Cương" trong bài Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật của hòa thương Thích Trí Quang). Do đó có thể hiểu chữ "thọ" nói trên là "chịu" sự bố thí hay “nhận” bố thí, và "thọ giả" là người chịu hay nhận bố thí. Trong đoạn kinh Kim Cương này đức Phật nói về bố thí pháp. Như vậy, ý nghĩa trong câu kinh là không phân biệt (ngã/nhân, ngã/chúng sinh) “ngã/thọ giả” nghĩa là không phân biệt người cho (TA) và người nhận (thọ giả). Đây là lý “tam luân không tịch”, là khi bố thì không phân biệt người cho, vật cho, người nhận, không vì mong cầu phước đức mà cho, không vì lời khen mà cho..., cho mà không trụ vào điều gì, không chấp trước. Đó là nghĩa bố thí ba-la-mật. Và ý nghĩa chung toàn câu là không phân biệt hay không ngã chấp.

 



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com