|
THIÊN CHÚA và TÌNH YÊU.
THIÊN CHÚA và NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO.
---
Trang (1) (2)
1/ Tình yêu là cao trọng hơn cả.
-- Thường thì một người đến với Kitô giáo vì tin rằng có một vị Thiên Chúa nhân từ thương yêu mình, có thể giúp mình qua những đau khổ, và với hy vọng có thể được đón nhận vô Thiên đàng để được sống hạnh phúc đời đời. Muốn được Thiên Chúa yêu thương như vậy thì trước hết phải yêu thương và tin tưởng ngài, phải năng đi nhà thờ để nghe giảng về Thiên Chúa và cầu nguyện. Và nghĩ về thiên đàng là một nơi có cuộc sống sung sướng hạnh phúc hơn bây giờ (mỗi người tưởng tượng một cách tùy theo hoàn cảnh hiện tại của mình bây giờ, ví dụ bây giờ bị đói rét thì lên Thiên đàng sẽ vĩnh viễn no ấm,bây giờ đang bị đau khổ thì nơi Thiên đàng vĩnh viễn là hạnh phúc, bây giờ đang vất vả kiếm ăn thì ở Thiên đàng vĩnh viễn không cần làm vẫn dư ăn ...). Thường cái thuở ban đầu là như thế.
-- Trong thời gian sinh hoạt và học đạo, người ấy được chỉ cho rằng muốn được vậy thì phải vâng lời Thiên chúa, mà cụ thể nhất là 10 điều răn và những lề luật. Đức Giê-su tóm tắt tất cả các điều răn và lề luật thành một điều răn duy nhất là "hãy yêu tha nhân như yêu chính mình", và thánh Phao-lô dẫn giải thêm:
Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy" (Ga-lát 5:14-15)
và: “…ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”. (Rm 13:8-10)
Thế thì muốn được TC đoái tưởng tới thì phải biết "yêu tha nhân như yêu chính mình", hay nói gọn lại là "tình yêu".
-- Cuối cùng của chặng đường tu học, người ấy hiểu ra rằng, "tình yêu" mới chính là điều trọng yếu nhất, vượt trên cả đức tin, và niềm hi vọng ban đầu. Đây là lời thánh Phao-lô nói về điều đó:
"Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin (faith), đức cậy (hope), tình yêu thương (love); nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương." (1 Cô-rin-tô 13:13).
Và để diễn tả sự quan trọng tột cùng của "tình yêu", thánh Phao-lô nói:
Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.
Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.
Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi. (1 Cr 13:1-3)
Do vậy, người ấy hiểu ra rằng, cái đức tin và hi vọng ngày xưa của mình giống như suy nghĩ của đứa bé con. Ngày nay hiểu về sự trọng đại của tình yêu, bèn bỏ đi cái suy nghĩ của thời con trẻ ấy. Đó cũng là lời thánh Phao-lô:
"Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ." (1Cr 13:11)
-- Bây giờ trở lại niềm tin và hi vọng về cái thiên đàng ngày xưa, thì cũng đúng là suy nghĩ của thời con trẻ, vì đức Giê-su nói về triều đại Thiên chúa (hay Thiên đàng, hay nước Trời) như sau:
"Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17,20-21).
Vậy thì thiên đàng là chính ở trong tâm mỗi người (ở giữa các ông), và đối với một tập thể (một gia đình, một tập thể, một thế giới), cảnh giới thiên đường là "ở giữa các ông" với nhau, nếu ai cũng mang trong lòng tình yêu thương tha nhân. Đó là hoà bình là an lạc là hạnh phúc... là thiên đàng. Ngược lại, không biết thương yêu nhau thì sẽ tranh giành, xung đột, xâu xé nhau mà gây muôn sự khổ ngay trong ta và giữa con người với nhau , đó là hình ảnh của địa ngục.
Thiên chúa ở tại Thiên đàng, mà thiên đàng tại tâm ta thì Thiên chúa cũng tại tâm ta, chứ không thể tìm ở nơi này nơi kia bên ngoài. Thiên chúa ở trong tâm ta là ý nghĩa "Thiên chúa là tình yêu" vậy.
2/ Thiên chúa và nghiệp báo, nhân quả.
-- Nói về ân oán, đức Phật khuyên rằng: "hãy lấy ân mà trả oán", điều này ai cũng biết, chỉ có điều khó làm thôi. Thế thì những kẻ làm ác cứ phây phây hưởng ân hay sao? Hẳn ý ngài không phải vậy, và ngài cho biết đã có luật nhân quả, luân hồi, nghiệp báo xét xử. Và bản thân mỗi người chỉ nên chú tâm nuôi dưỡng lòng “từ bi hỳ xả” [1] với mọi người (kể cả với kẻ thù), như vậy xoá được lòng sân hận trong tâm mình. Không sân hận thì tâm hồn được bình an vì sân hận là một trong tam độc tham, sân, si. Diệt tham sân si là Niết bàn.
-- Với Kitô giáo, đức Jesus nói về ân oán cũng tương tự như vậy:
"... hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (Lc 6:27-28)
Thế thì ai sẽ trừng trị những kẻ ác, không lẽ chúng cứ phây phây hưởng ân hay sao? Câu trả lời là chính Thiên chúa sẽ báo oán, sẽ trừng phạt. Còn bản thân mỗi người hãy học lấy "yêu mọi người như yêu chính mình" dù đó là kẻ thù. (khó quá, thế mới có tôn giáo). Đây là giải thích của thánh Phao-lô:
"...Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Ðức Chúa Phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Ðừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác. (Rm 12:19-21)
Như vậy,tóm tắt lại :
-- Với Phật giáo: hãy lấy ân trả oán. Còn với những ai làm ác đã có luật nhân quả, nghiệp báo... xét xử thanh toán.
-- Với Kitô giáo : hãy lấy ân trả oán. Còn với những ai làm ác đã có Thiên chúa... xét xử và thanh toán.
So sánh như thế, thế thì có vẻ như Thiên chúa cũng chính là luật nhân quả luân hổi nghiệp báo. Chữ thì có khác nhưng nghĩa thì lại giống nhau, "y nghĩa bất y ngữ".
Nhưng dù thế nào đi nữa thì cao trọng hơn cả vẫn là "Thiên chúa là tình yêu". Có tình yêu (yêu tha nhân chứ không chỉ yêu mình và gia đình mình) thì không còn tội ác, do đó cũng chẳng cần tới nhân quả nghiệp báo gì nữa. Thế thì cái đỉnh cao hay là cái đích của Phật giáo hay Kitô giáo cùng là "tình yêu thương", mà đức Giê-su nói là "yêu tha nhân như yêu chính mình", còn đức Phật nói là tứ vô lượng tâm "từ bi hỷ xả" [1] . Cho dù nếu có cảnh giới mang tên Thiên đường hay Niết bàn nào đó ở trên tầng trời, mà ở đó không có tình yêu thì cũng chẳng ích gì, vì lòng vị kỷ vẫn còn đó, nên tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị vẫn còn đó, nên tranh giành, xung đột vẫn còn và đau khổ cũng vẫn còn. Đấy là điều thánh Phao-lô nói: “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.
Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.
Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi. (1 Cr 13:1-3)
3/ Sự ban thưởng và sự trừng phạt.
Điều hai trong mười điều răn , có nói: . “…Hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.”
Trong câu nói mang ý của sự trừng phạt và ban thưởng liên quan đến "tình yêu" (thưởng) và "không tình yêu" (phạt).
─ Hễ ai ghét Ta, Ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời: Ghét Thiên Chúa, cũng là ghét "tình yêu" (vì Thiên Chúa là tình yêu) cũng là không “yêu tha nhân”, mà chỉ yêu cái TA. Chỉ yêu TA mà không yêu NGƯỜI là nguyên nhân sinh ra tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị..., mầm mống của xung đột, chiến tranh, tội ác... và đau khổ sẽ liên miên... từ đời này qua đời khác. Đó là ý nghĩa của sự trừng phạt ba bốn đời (vì chối bỏ tình yêu). Đó cũng là hình bóng của địa ngục.
(Ông Adam và bà Eve, tượng trưng tổ phụ loài người, là người đầu tiên sinh ra cái mầm mống của tội ác ấy và gieo truyền lại cho hậu duệ, nên hai ông bà mang "tội tổ phụ" [2] ).
─ và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ta và giữ các điều răn của Ta: Người yêu mến Thiên Chúa cũng mang nghĩa là người có “tình yêu tha nhân”, nếu không yêu tha nhân là chối bỏ Thiên Chúa "...Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa"mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối" (1Ga 4:20). Giữ các điều răn cũng là tìm được cho mình biết "yêu tha nhân" (“…ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”. (Rm 13:8-10). Khi biết yêu tha nhân thì không còn làm điều ác với mọi người. Khi mọi người cùng yêu thương nhau, và tình yêu được truyền lại cho con cháu mãi mãi về sau... thì cái ác... không còn nữa: Đó là bình an, hạnh phúc, hòa bình… từ đời ta, tới đời con cháu chút chít.. tức là ngàn đời cho mọi người. Đó là ý nghĩa câu "làm ơn đến ngàn đời"; có thể hiểu đó chính là nhân quả: “tình yêu thương” là nhân và “bình an, hạnh phúc, hoà bình… ngàn đời” là quả.
CUNG ĐÀN
Dec/2009.
[1] Tứ vô lượng tâm "Từ - Bi - Hỷ - Xả"
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh.
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (mang cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Ki-tô giáo)
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (mang cùng ý nghĩa "vui cùng người vui" trong Kinh Thánh) ,không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc.
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).
Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha” hay "yêu người". Nội dung cũng giống như hai chữ "tình yêu" trong Ki-tô giáo.
[2] Tội tổ phụ (tội tổ tông)
Tới đây, xin trở lại một chút với “tội tổ tông” mà ông Adam phải mang nặng muôn đời, với tội danh thường được nói tới là “phản bội”, “chối bỏ”, hay “bất phục tùng” Thiên Chúa. Cũng với ý niệm “Thiên Chúa là Tình Yêu”, hay Thiên Chúa = Tình Yêu, nếu ta lấy chữ TÌNH YÊU thay cho từ THIÊN CHÚA, thì tội của ông Adam đổi thành tội “phản bội”, “chối bỏ” hay “bất phục tùng” TÌNH YÊU, và mang một ý nghĩa có vẻ phổ quát hơn, dễ chấp nhận hơn dù với người không mang niềm tin Ki-tô giáo. Cách giải thích cũng đơn giản: Khởi đầu, ông Adam chưa có ác (nên cũng chẳng có thiện, đó là tâm không thiện/không ác), khi ông Adam phát khởi tâm phân biệt thiện ác, cũng chính là ông phát khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI, là ông “yêu TA hơn NGƯỜI khác” (tức lòng vị kỷ, và vị kỷ là mầm mống của cái ác), trái ngược hẳn với ý nghĩa của hai chữ TÌNH YÊU trong Ki-tô giáo là “yêu NGƯỜI như yêu chính TA”. Như vậy là ông đã chối bỏ TÌNH YÊU, nên cũng có nghĩa là ông chối bỏ Thiên Chúa. Và tới ngày nay con người cũng vẫn tiếp tục chối bỏ Tình Yêu như vậy.
Chối bỏ Tình Yêu như vậy là căn nguyên của xung đột, chiến tranh, bất hạnh, tội ác. Nuôi dưỡng và phát triển Tình Yêu như vậy là hòa bình, hạnh phúc, bình an, là không còn tội ác "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10). Sau này chính đức Jesus đã rao giảng tình yêu như thế, với mục đích để cứu nhân loại khỏi tội ác, và ngài đã hi sinh cả thân mình cho sứ mạng đó. Đó là ý nghĩa của ba chữ "Chúa Cứu Thế" mà nhân loại đã trân trọng khi xưng danh ngài. Và cây thập tự giá nơi ngài đã hi sinh thân mình một cách thánh thiện như thế được gọi là "Thánh Giá".
|