"KHÔNG THẤY MÀ TIN"
Trong ĐẠO PHẬT.
 
Tín ngưỡng xây dựng trên lòng tin. Bởi không thấy cụ thể rõ ràng mới cần... tin. Đạo Phật cũng vậy. Tin "nhân quả - nghiệp báo luân hồi" là một đức tin căn bản trong Phật giáo.
 
Một đứa trẻ mới sinh bị tật nguyền, bất hạnh, thì ta nói nó trả nghiệp ác nó đã tạo trong kiếp trước . Nhưng hiện tại bản thân nó có biết gì, có thấy gì cái kiếp trước đâu. Không thể chứng minh rõ ràng, nhưng ta tin như thế thì đó là "không thấy mà tin".
 
Đằng sau luật nhân quả luân hồi nghiệp báo là hình bóng của chín tầng địa ngục, ngạ qủy, súc sanh. Để làm gì? đơn giản chỉ là để người ta SỢ không làm điều ác, mà ráng tu tâm làm thiện. Thế thì cái SỢ cũng cần lắm chứ, ít nhất là ở một giai đoạn nào đó, thường là lúc ban đầu. Đằng sau chữ thiện là cõi Trời, Niết bàn, nước Phật, hoặc miền Tây phương cực lạc..., đó là sự tưởng thưởng cho người làm thiện. Cái hay cái cần thiết của niềm tin nhân quả luân hồi còn là tránh cho người ta nỗi uất ức vì những bất hạnh mình gặp phải vì tin rằng đó là do nghiệp dĩ của chính mình tạo ra, từ đó ráng tu thân tích đức để cải nghiệp. Tuy không chứng minh được rõ ràng, nhưng ta tin như thế, và đó là "không thấy mà tin". 
 
Chưa chứng minh được rõ ràng, thì tạm coi đây chỉ là... phương tiện để dẫn dắt người ta làm thiện tránh ác. Trong quá trình tu học thì mỗi người phải phân minh thiện ác để làm thiện tránh ác.
 
Cái đích lý tưởng cuối cùng là tiêu diệt hẳn cái ác. Hết ác là hết khổ. Thiện - ác là một cặp nhị nguyên, vì có ác nên mới cần có thiện. Khi cái ác mất thì chữ thiện cũng không còn cần tới nữa, lúc đó là "không thiện - không ác" là tánh không hai (tâm bất nhị, tức không còn nhị nguyên nữa). Tánh không hai là Phật tánh như câu nói sau đây: "...Một là thiện hai là bất thiện (ác), còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai.”. Đó cũng chính là cái bản tâm hay bản tánh của con người, hay là "bản lai diện mục" , như ý nghĩa bài pháp đầu tiên của lục tổ Huệ Năng "...không nghĩ thiện không nghĩ ác...(ngay lúc ấycái gì)... là bản lai diện mục... (của thuợng tọa Huệ Minh). Thế thì cái đích cuối cùng là thấy được cái bản tính (Phật tánh) của con người chứ không phải cứ loay hoay ở những nhân và quả, những luân hồi. Đó cũng là ý của Bồ Đề Đạt Ma, khi ngài giải thích:
 
"Muốn thành Phật phải thấy tánh.  Nếu chẳng giác ngộ bổn tánh thì nói những nào nhân, nào quả đều là pháp ngoại đạo.  Nếu là Phật thì chẳng tập theo pháp ngoại đạo.
....Có người bác cho rằng không nhân quả, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián tối tăm mãi mãi.  Nếu là người trí không nên hiểu như thế." (Bồ Đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp)
 
Thế thì muốn thấy bản tánh thì phải diệt cái ác.
 
Làm sao để bỏ ác? -- Bỏ lòng tham, sân, kiêu mạn, ganh tị... sẽ đi tới bỏ được ác.
 
Làm sao bỏ tham, sân, kiêu mạn, ganh tị? -- Đó là do biết yêu thương mọi người. Điều này cũng dễ hiểu, tuy khó làm: Ta yêu chân thật vợ,con, anh em, cha mẹ thì ta chẳng bao giờ lại có tâm ý ác, lời nói ác, hay hành động ác, hay tham lam, hay hận thù với họ. Ta yêu bản thân mình thì chẳng bao giờ ta lại ác với chính mình. Thế thì khi ta yêu mọi người như yêu bản thân mình thì ta chẳng ác với ai cả, như lời thánh Phao lô bên Kitô giáo nói "khi đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại", và cái ác sẽ dần dần biến mất trong tâm ta, đó là Phật tại tâm. Ai cũng tu tâm được như thế là cảnh giới Niết bàn chung cho mọi người, vì đức Phật nói về Niết bàn như sau :" đồng nghĩa với Niết bàn, này các tì kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si".

Học "yêu người" là bỏ được tham sân si, tức là hướng về Niết bàn. Yêu người chính là tứ vô lượng tâm "từ-bi-hỷ-xả": 
 
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh.
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (mang cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Ki-tô giáo)
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (mang cùng ý nghĩa "vui cùng người vui" trong Kinh Thánh) ,không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc.
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).

Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha” hay "yêu người". Nội dung cũng giống như hai chữ "tình yêu" trong Ki-tô giáo.

Yêu người... khó lắm. Cái khó là ở lòng người, vì ai cũng mang sẵn tâm vị kỷ, chỉ biết vì mình và những gì thuộc về mình. Nếu nói xuông là "thương người như thể thương thân" như ông Nguyễn Trãi hồi xưa trong Gia Huấn Ca thì chẳng mấy ai nghe. Thế thì phải có "cây gậy và củ cà rốt", nghĩa là phải có sự đe doạ bằng hình phạt cùng với sự hứa hẹn tưởng thưởng thì mới thúc người ta thực hiện cái yêu cầu ấy. Đây là cái lý của luật nhân quả - nghiệp báo -  luân hồi:
 
- Anh mà tạo nghiệp ác ("nghiệp" là hành động, lời nói có chủ tâm hay có tác ý)  thì anh sẽ lãnh quả ác, anh tạo nghiệp thiện thì anh sẽ được cuộc sống tốt đẹp bình an. Điều này ta cũng thấy rõ trong đời sống xã hội con người có luật lệ, ví dụ trộm cướp, sát nhân thì phải ra tòa lãnh án.
 
- Cũng có những thắc mắc là có kẻ có những hành vi ác mà sao vẫn phây phây sống phè phỡn, nhưng cũng  không hiếm những người hiền lành lại vướng phải cuộc sống đau khổ, làm cho người ta phân vân về nhân quả (nhãn tiền)... Đã có luật luân hồi nghiệp báo giải thích chuyện này: ... Bà kia tuy hiền lành nhưng mà vẫn khổ là tại... cái nghiệp bất thiện bà tạo ra ở kiếp trước, như vậy bà hãy tiếp tục làm thiện bây giờ để trả nợ cái nghiệp ác cũ, và tiếp tục làm thiện hơn nữa để hưởng cuộc đời sung sướng ở tương lai hay ở kiếp sau. Còn cái ông nọ, tuy có những hành vi ác độc mà vẫn được sống sướng phây phây thì phải hiểu là ông ta có nghiệp lành ở kiếp trước, kiếp này được hưởng quả lành, nhưng hiện ông ta làm điều gian ác, thì tương lai hay kiếp sau ông ta sẽ khốn nạn, nếu không sửa lại cái tâm ác của mình.
 
Kinh "Nhân Quả Ba Đời"  là kinh Phật đơn giản nhất diễn giải cái ý nhân quả luân hồi này, xin trích lại vài đoạn:
 
"1. Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay hưởng phước bởi nhân xưa
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp tự thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu phước ấy đến từ đâu?
 
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
 
3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
 
4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.  ...."
 

 
"... Người đời nay sống lâu, là do đời trước có từ tâm.
Người đời nay chết non, là do đời trước hay sát sanh.
Người đời nay giàu to là đời trước hay làm hạnh bố thí.
Người đời nay có xe ngựa, là do đời trước cúng dường Tam Bảo bằng xe ngựa.
Người đời nay thông minh, là do đời trước ham học và tụng kinh...."
 
Kinh "Nhân Quả Ba Đời" và "thiện Ác Nhân Quả" có lẽ là kinh dành cho những người còn sơ cơ, lấy việc bố thí làm thiện để đổi một cuộc sống tốt lành ở kiếp sau, giống như gieo hạt vào ruộng "phước điền" để kiếp sau gặt hái, giống như để dành tiền của trong ngân hàng để kiếp sau được sống sung sướng. Việc bố thí và làm thiện như thế là dựa vào mơ ước hưởng sung sướng được đền đáp ở một kiếp sau.
 
Nhưng ở một trình độ khác, thì việc bố thí là không dựa vào một điều kiện nào cả, cho mà không hề mong một sự đền đáp, mà trong kinh kim cang nói là "khi bố thí không trụ vào cái gì cả" (không một điều kiện, không vì thiên kiến, không vì lợi ích của TA cho dù ở một kiếp sau), trên tinh thần "tam luân không tịch" (1) , là không vướng mắc, phân biệt người cho (là TA), vật cho, NGƯỜI nhận. Bố thí như vậy giống các hoạt động bình thường như hơi thở, như đi đứng nằm ngồi.... 
 
"Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí" (kinh Kim Cang). Đây là bố thí ba la mật, bố thi như vậy là dẹp bỏ được cái TA to lớn, là không còn vị kỷ , không vị kỷ là KHÔNG... (vì) TA là vô ngã, sẽ đưa trở về với bản tâm, bản lai diện mục, tức bờ bên kia, cũng là trở về Phật tánh của mình.
 
Công việc làm thiện cũng vậy. Đối với những người còn sơ cơ, việc làm thiện là mong dành phước đức cho kiếp sau, nhân lành thì quả lành. Nhưng ở một trình độ khác, nhân quả không còn là một chuyện vướng mắc nữa, mà cái chính của việc làm thiện tránh ác là để trở về với cái bản tính hay bản tâm "không thiện/không ác", hay "siêu việt thiện ác" . "Không thiện/không ác" hay "siêu việt thiện ác" chính là "tánh không hai" hay là Phật tánh:
 
"...Một là thiện hai là bất thiện (ác), còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai.”.
 
 
"Người siêu việt thiện ác,
 
Dứt phiền não buộc ràng,
 
Thanh tịnh sống thênh thang,
Bà La Môn ta gọi." (kinh Pháp cú)
 
 "Luân hồi nghiệp báo" chẳng thể chứng minh, nên cần niềm tin. Người Phật tử có niềm tin ấy vững chắc thì khi gặp điều bất như ý không khổ sở, luôn tự nhắc nhủ mình tránh làm ác mà chú tâm làm thiện. Không có niềm tin như thế thì rất dễ rơi vào khổ đau khi gặp điều bất hạnh, và dễ dàng có những hành động ác. Chính vì thế mà trong Kinh Pháp Cú chép lại lời đức Phật, rằng: 
 
"....
Ai tin không có đời sau,
Bao điều xấu ác, họ đâu sợ gì ! (2)
Sẵn sàng làm, có sợ chi" (kinh Pháp Cú - 176)
 
Chỉ nói làm thiện tránh ác không thì chẳng có bao nhiêu người làm, nếu không có niềm tin có thế lực siêu nhiên nào đó tưởng thưởng hay trừng phạt phía sau. Niềm tin hay đức tin quan trọng là thế trong tôn giáo, ít nhất là trong giai đoạn nào đó..., vượt qua giai đoạn ấy sẽ là: "Muốn thành Phật phải thấy tánh.  Nếu chẳng giác ngộ bổn tánh thì nói những nào nhân, nào quả đều là pháp ngoại đạo.  Nếu là Phật thì chẳng tập theo pháp ngoại đạo." (Bồ Đề Đạt Ma)./.  
 
Cung Đàn
Dec. 2009 
 
Home           Top
 
 
GHI CHÚ:
 
(1) Tam luân không tịch (còn gọi là tam luân thể không), tức là “thí không” (người thí thấy thân mình vốn là không, đã biết là vô ngã nên không có tâm mong cầu phước báo), “thọ không” (không thấy có người nhận của bố thí, nên không khởi tâm kiêu mạn), và “thí vật không” (thể nhận bản chất các pháp là không, nên vật được dùng để bố thí cũng là không, không khởi tâm tham). Bố thí tam luân không tịch chính là nội dung của Bố Thí Ba-la-mật. (link)
 
Theo Đoàn Trung Còn: "... Bồ tát bố thí không trụ tướng cũng gọi là bố thí với ba không, nghĩa là không thấy có người bố thí, không thấy có vật bố thí và không thấy có người nhận bố thí." (Trích sách "Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật" - Đoàn Trung Còn soạn dịch và chú giải).
 
(2) Có thể so sánh với câu này trong Kinh Thánh cựu ước:

"Kẻ ngu si tự nhủ: 'Làm chi có Chúa Trời!'
Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm,
chẳng có một ai làm điều thiện."
(Thánh Vịnh 14:1)
 
Nhà văn Nga Fyodor Mikhailovich Dostoevsky có một lập luận tương tự rằng  "Nếu không có  Chúa Trời, tất cả mọi thứ đều được phép" ,  từ đoạn văn sau: "Như vậy thì con người sẽ ra sao? - tôi hỏi. Không có Trời tức là không có cuộc đời sau này à? Thế thì bây giờ mọi việc đều được phép làm, có thể làm được tất cả mọi việc à?" (Tội Ác và Hình Phạt - Tập 11 - Chương 4 ), có thể hiểu nghĩa là nếu không tin có Thiên Chúa (không tin có một thế lực siêu nhiên có thể trừng phạt kẻ có hành động ác), thì con người không có cái ác nào mà không dám làm.
 
Thế nhưng : "Giả như tôi.... có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non mà không có đức ái (tình yêu) thì tôi cũng chẳng là gì" (1Cr 13:2). Cho nên tình yêu tha nhân mới chính là cao trọng hơn cả. 
 
 
 
 
 


Website powered & layout © by TipTopWebsite.com