THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
----
Trang (1) (2)
Thập nhị nhân duyên là những liên hệ nhân quả sinh ra sự khổ “sầu, thán, khổ, ưu, não…” cho đời người. Khởi đầu là do vô minh rồi những điều kiện (duyên) kế tiếp nhau sinh sôi nảy nở như thế này:
Do: [1] vô minh → [2] hành → [3] thức → [4] danh sắc → [5] lục nhập → [6] xúc → [7] thọ → [8] ái → [9] thủ → [10] hữu → [11] sinh → [12] lão, tử,… sầu, thán, khổ, ưu, não… Đó là sự sinh khởi và kết tụ thành những đau khổ phiền não nơi con người.
Những vòng muời hai nhân duyên như thế xuất hiện từ ban đầu khi con người mới xuất hiện (tưởng tượng lúc khởi đầu, tâm hồn con người còn đơn sơ chưa mang dấu vết gì của cái ác và sự đau khổ), và sau đó vẫn tiếp diễn xoay vòng luân hồi mãi khi con người vẫn chưa thoát khỏi cái màn vô minh. Khi hết vô minh thì cái vòng luân hồi thập nhị nhân duyên cũng chấm dứt và “sầu, thán, khổ, ưu, não” cũng không còn. Đó là giải thoát.
Mọi sự khởi đầu từ vô minh, vậy vô minh là gì? Xin diễn nghĩa bắt dầu từ vòng nhân duyên đầu tiên.
1.- VÒNG 12 NHÂN DUYÊN đầu tiên: Sự hình thành cái KHỔ.
Khởi đầu, khi mới hiện diện trên thế gian, ta có thể tưởng tượng rằng đời sống con người còn đơn sơ, giản dị, vô tư (tưởng tượng giống như tâm hồn trẻ thơ); con người chưa biết “khổ” là gì và cũng chưa có ý niệm gì về “hạnh phúc”, giống như một người mù bẩm sinh không có ý niệm gì về ánh sáng (hạnh phúc) nên đâu có biết bóng tối (đau khổ) là sao. Đó là tâm bất nhị, là bản tâm của con người.
Chưa biết khổ và dĩ nhiên chưa biết nguyên nhân sinh ra khổ, đó là vô minh, vì rằng: “Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh.” (Kinh Tương Ưng Bộ V – Vô Minh), và là sự vô minh đầu tiên, sự vô minh tự nhiên, không có nghĩa là ngu dốt, vì ban đầu tâm và trí con người cũng vô tư đơn sơ như tâm đứa trẻ thơ, không thể nói là ngu dốt.
[1] Vô Minh → [2] Hành → [3] Thức:
Do khởi đầu đã có sự vô minh tự nhiên như thế, đưa tới chuyện con người có những hành động cũng tự nhiên theo đòi hỏi của xác thịt của mỗi người, mà không có sự kềm chế, đó là vô minh duyên hành.
Khi mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi… là con người có nhận thức, là nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức…, những thức này là do hoạt động tự nhiên của lục căn khi tiếp xúc với lục trần, và ghi nhớ lại trong tàng thức hay bộ nhớ như là những kinh nghiệm để sử dụng lại sau này. Đó là hành duyên thức, và đây là thức tự nhiên từ trí óc của con người có được trong sinh hoạt hàng ngày.
Từ những nhận thức tự nhiên ấy, dần dần phát sinh sự phân biệt hơn kém tốt xấu giữa người với người, như trong đoạn kinh Kinh Tiểu Duyên trích lại dưới đây:
…”Chúng sanh lúc này chỉ sống nhờ ăn vị đất mà sống lâu trong thế gian. Người nào ham ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người nào ăn ít thì nhan sắc còn tươi nhuận, do đó mới bắt đầu có sự tốt xấu, đoan chính. Người đoan chính thì sinh tâm kiêu mạn khinh người xấu xí. Người xấu xí thì sanh tâm tật đố ghét người đoan chính. Chúng sanh do đó thù nghịch với nhau”
Người ta bắt đầu có những nhận thức về những khác biệt đó, có hơn có thua, và từ đó phát sinh tâm kiêu mạn, ganh tị (tật đố), rồi thù nghịch…,đó cũng là hành duyên thức. (Đây là tâm thức, là nhận thức về phân biệt hơn/thua, tốt/xấu, vui/buồn, sướng/khổ... là gốc gác của phiền não.)
Đó là lần đầu tiên tâm kiêu mạn, tật đố (ganh tị) xuất hiện (tức là bắt đầu có mặt của tâm phân biệt TA/NGƯỜI) và sinh ra thù nghịch giữa người và người…, là nguyên nhân dẫn tới… “khổ”. Chúng ta sẽ trở lại chữ “khổ” chi tiết hơn ở đoạn dưói sau; bây giờ xin diễn nghĩa tiếp về “thức duyên danh sắc”.
[3] Thức → [4] Danh Sắc:
Khi mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi… là con người có nhận thức, là nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức…, những thức này là do hoạt động tự nhiên của lục căn khi tiếp xúc với lục trần, và ghi nhớ lại trong tàng thức hay bộ nhớ như là những kinh nghiệm để sử dụng lại sau này. Cũng từ THỨC này, đã “thai nghén” ra DANH SẮC, con người đặt tên (DANH) cho mỗi đối tượng (SẮC) để dễ hình dung và dễ phân biệt chúng trong giao tiếp với nhau (đó là sự khác nhau giữa người và sinh vật khác). Đây là thức duyên danh sắc (chữ thức này chỉ mang ý nghĩa nhận thức vật lý tự nhiên), “danh” là tên gọi và “sắc” là đối tượng của cái tên đó. Ví dụ khi ta nói “lúa gạo” (danh) thì người khác hiểu đó là một loại hạt (sắc) gặt hái ở ngoài đồng ruộng để nấu ăn – ví dụ khác: TA và NGƯỜI là những “danh sắc” để phân biệt giữa những con người khác nhau trong giao tiếp.
Rồi do tâm phân biệt phát sinh: Những nhận THỨC về sự phân biệt phát sinh giữa người và người kèm theo sự hơn thua, là quan trọng hơn, vì chính nó mới là gốc rễ của thù nghịch và khổ đau, xin nhắc lại đoạn kinh trong Kinh Tiểu Duyên. “… Chúng sanh lúc này chỉ sống nhờ ăn vị đất mà sống lâu trong thế gian. Người nào ham ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người nào ăn ít thì nhan sắc còn tươi nhuận, do đó mới bắt đầu có sự tốt xấu, đoan chính. Người đoan chính thì sinh tâm kiêu mạn khinh người xấu xí. Người xấu xí thì sanh tâm tật đố ghét người đoan chính. Chúng sanh do đó thù nghịch với nhau”.
Sự nhận thức về những phân biệt giữa TA và NGƯỜI (mang ý nghĩa hơn thua) đã cho danh sắc TA và NGƯỜI mang thêm một ý nghĩa về hơn thua, đưa người ta tới chỗ cho mình là nhất, từ đó sinh ra cái tâm lý thấy mình hơn thì kiêu mạn, thấy người hơn thì tật đố hay ganh tị (đây là tâm phân biệt TA/NGƯỜI), và đưa tới tranh giành, thù nghịch. Và khi có tranh giành thì ai cũng muốn phần riêng về mình, đó là sự sở hữu, từ đây bắt đầu có sự phân chia:
“Rồi chúng bảo nhau: ’Chúng ta hãy phân chia đất và cắm mốc.’ Chúng chia đất và cắm mốc, do nhân duyên ấy mới phát sinh danh từ ruộng đất.”
Bên trên là một ví dụ về “danh sắc” mới phát sinh do nhận thứcvề sự phân biệt hơn thua giữa ta và người: chữ “ruộng đất” là danh chỉ những phần đất đã được cắm mốc phân chia cho mỗi người, là sắc. Và để phân biệt rõ hơn nữa sẽ có thêm nhận THỨC về sự sở hữu: “ruộng của tôi”, “ruộng của anh”, “ruộng của nó…” để chỉ phần riêng biệt của mỗi người. Đó là thức duyên danh sắc (chữ thức này mang ý nghĩa nhận thức nơi tâm, hay là tâm thức). Ngày nay chúng ta đã có biết bao nhiêu là DANH SẮC loại này đã được sinh đẻ ra: nhà của tôi, tiền của của tôi, con tôi, đất nước tôi…, nhà nó, tiền của của nó, nước nó…
Ghi chú : Dưới đây xin chỉ đề cập tới DANH SẮC loại này, nghĩa là sinh ra từ nhận THỨC về tâm phân biệt giữa người và người (con người đã mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI), vì đó mới là nguyên nhân của tranh chấp và dẫn tới cái ác, sự khổ đau và phiền não.
[4] Danh Sắc → [5] Lục Nhập → [6] Xúc
Tiếp xúc giữa lục căn và ngoại cảnh (lục trần) khởi đầu mang tính vật lý khách quan chung cho mọi sinh vật (có bộ óc), được ghi nhận nơi TRÍ óc; nhưng đối với con người thì sinh tiếp ra danh sắc như nói trên. Và cũng với con người, không ngừng ở đó, mà kết quả của những tiếp xúc (là “danh sắc”) tiếp tục đi sâu vào TÂM gọi là lục nhập, đó là danh sắc duyên lục nhập. Và “lục nhập” tác động tới TÂM phát sinh tình cảm nên gọi là cảm xúc. Đó là lục nhập duyên xúc.
(Do lục nhập, con người lựa chọn và tìm cách chiếm lĩnh về cho mình những thứ DANH SẮC mà mình yêu thích. Và ý muốn chiếm lĩnh cho riêng mình chính là lòng tham, và từ tham lam sẽ đưa tới sân hận, ganh tị, hay kiêu mạn… và sẽ đưa tới hành động ác.)
[6] Xúc → [7] Thọ
Qua những tiếp XÚC và cảm XÚC nói trên mà những cảm THỌ sinh ra, ở đây chỉ chú tâm đến “cảm thọ về tâm”, là những tình cảm phát sinh nơi tâm như yêu/ghét, hơn/thua, đẹp/xấu (tham cái đẹp và ghét cái xấu). Đó là xúc duyên thọ….
(Yêu/ghét, hơn/thua, vui/buồn… là khởi động cho sự tranh giành, xung đột… để giành cái hơn về mình… để rồi từ đó sinh ra tâm ý ác, lời nói ác, hành động ác… là nguyên nhân của khổ não)
[7] Thọ → [8] Ái → [9] Thủ
Khi có cảm thọ yêu/ghét, hơn/thua, đẹp/xấu, vui/buồn… thì sinh tiếp cái tình cảm “ái” (thọ duyên ái), là yêu những gì hơn (yêu hơn, đẹp hơn, vui hơn...) và lôi kéo về minh và giữ riêng cho mình. Ý muốn ôm giữ riêng cho mình là thủ: đó là ái duyên thủ . Ai cũng lôi kéo giành giựt về cho mình (thủ) những thứ mình yêu thích, hình thành những tranh cãi, xung đột, và vô số điều ác, được đức Phật giải thích như sau:
“A-nan, nên biết, nhân tham ái mà có tìm cầu, nhân tìm cầu mà đắc lợi, nhân đắc lợi mà thọ dụng, nhân thọ dụng mà tham muốn, nhân tham muốn mà tham chấp, nhân tham chấp mà tật đố, nhân tật đố mà chấp thủ, nhân chấp thủ mà phòng hộ. Này A-nan! Do phòng hộ nên mới có dao gậy, tranh cãi, gây vô số điều ác.” (Trích Đại Duyên Phương Tiện Kinh Trương A-Hàm)
[9] Thủ → [10] Hữu
Ai cũng muốn thủ giữ cho mình những thứ mình yêu thích (ái). Thủ giữ cho mình những thứ mình yêu thích nghĩa là bây giờ ta có những thứ đó, là hữu. Đó là thủ duyên hữu.
[10] Hữu → [11] Sinh
Trước khi thủ giữ cho mình một cái gì đó là ta "chưa có", khi thủ giữ cho mình là "có". Từ “không có” trở nên “có” (hữu) mang nghĩa là sinh…. ,đó là hữu duyên sinh.
[11] Sinh → [12] Hoại - Diệt (Già - Chết) → “Sầu, Thán, Khổ, Ưu, Não”
Với luật vô thường thì có rồi cũng sẽ mất là chuyện không tránh được,… có SINH là có HOẠI rồi tới DIỆT. (hoặc GIÀ, CHẾT đối với con người). Khi ta đã có (hữu) được những thứ ta yêu thích (ái), mà lại mất đi thì sanh ra đau thuơng… “sầu, thán, khổ, ưu, não”.
Chính cái thân TA cũng trải qua cái chuỗi nhân duyên như vậy, và khi ta cảm nhận được là ta yêu qúi (ái) cái thân này hơn cả, và sở hữu cái thân này, thì đó là sinh. Với luật vô thường, thân này có sinh thì có hoại rồi diệt hay già chết. Cái già làm ta sợ và cái chết làm kinh hãi… cộng thêm những mất mát do hoại diệt của những thứ ta sở hữu (ngã sở) làm con người luôn bất an... Đó là “sầu, thán, khổ, ưu, não”, là kết quả của cái vòng thập nhị nhân duyên.
2.- Các Chuỗi 12 NHÂN DUYÊN Tiếp Diễn.
▬ Sự vô minh tự nhiên ban đầu đã dẫn con người theo cái chuỗi 12 nhân duyên để đưa tới tranh giành thù nghịch để rồi kết quả là “sầu, thán, khổ, ưu, não”.
▬ Tranh giành, thù nghịch do lòng tham lam, sân hận, đưa tới cái khổ cho chính bản thân và cho cả người khác. Nhưng vì bận tâm quay cuồng với tranh giành thù nghịch, tham lam, sân hận…, nên khổ vẫn hoàn khổ. Dưới con mắt người đời, gặp cảnh khổ, người ta lại dùng chính cái tham lam, sân hận, tranh giành… để mong thoát khổ (ví dụ khi thua kém người khác, thì tìm mọi phương cách để kiếm được nhiều của cải thỏa lòng ganh tị để hơn người; có thù thì phải tìm cách trả thù để tìm sự sung sướng do thỏa mãn lòng thù hận…) Và càng vướng vào tham lam, sân hận, tranh giành… thì cái khổ lại càng phát triển thêm. Đó cũng lại là “vô minh”… tiếp nối cho những vòng 12 nhân duyên mới , nghĩa là lại tiếp tục sinh “hành, thức, danh sắc,…, thọ, hữu, sinh, lão tử” và “khổ”.
Những vòng nhân duyên như thế cứ luẩn quẩn xoay vòng… vòng này kế tiếp vòng khác, như những vòng luân hồi.
Thế nhưng, nếu nhận ra và loại bỏ dần sự vô minh ấy, thì những vòng nhân duyên thu hẹp dần giống như vòng xoay hình vỏ con ốc mà đỉnh điểm của nó tượng trưng cho sự chấm dứt vô minh, các chuỗi nhân duyên cũng chấm dứt, và “sầu, thán, khổ, ưu, não” cũng chấm dứt theo. Ngược lại nếu sự vô minh lại mở rộng thì các vòng nhân duyên cũng mở rộng thêm và chỉ làm "sầu, thán, khổ, ưu, não" tăng thêm.
◊
◊ ◊
Tóm lại, thập nhị nhân duyên diễn tả cái nguyên nhân và những điều kiện (duyên) tạo ra tham lam, sân hận, kiêu mạn, tật đố… rồi tranh giành, thù nghịch,… từ đó đưa tới cái ác và mọi điều khổ não. Và đức Phật chỉ chú tâm thuyết giảng về khổ, nguyên nhân khổ và phương pháp diệt khổ. Ngài nói:
“Này các Tỳ khưu, Ta giảng dạy những điều gì? 'Ðây là Khổ', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ tập', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy. 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', là điều Ta giảng dạy”.
Và “tứ diệu đế”, bốn sự thật về cái khổ, là bài thuyết giảng đầu tiên của ngài sau khi giác ngộ:
“Này các tỉ-khâu, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.
Này các tỉ-khâu, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỉ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.
Này các tỉ-khâu, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả ly, giải thoát, tự tại đối với các ái.
Này các tỉ-khâu, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.” ( Tứ Diệu Đế , vi.wikipedia)
Không thấu hiểu tứ diệu đế bị coi như là vô minh. "Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh..." (Tương Ưng Bộ - Vô Minh). Bản tánh con người vốn đơn sơ thanh tịnh, nhưng vì vô minh nên đưa tới tam độc "tham, sân, si", rồi kiêu mạn, tật đố… rồi tranh giành, thù nghịch,… từ đó đưa tới cái ác và mọi điều khổ não, qua các vòng 12 nhân duyên, tạo bức màn che khuất cái bản tâm ấy: "Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh. Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che lấp."
Diệt trừ được tam độc này là vén được cái màn vô minh để trở về với bản tâm thanh tịnh, Niết bàn, theo lời đức Phật:
"Đồng nghĩa với Niết bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc."
"Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này các Tỷ kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo tám ngành là con đương đưa đến bất tử."
Duy Đức
Dec - 2009