BẢN TÂM hay BẢN TÁNH
=== 

Người viết có cảm nghĩ rằng tuy mỗi tôn giáo là một con đường, nhưng các con đường cùng tới một cái đích, nên khi viết cứ hay chen lẫn những ý trong Kinh thánh lẫn ý tưởng trong kinh sách Phật giáo. Nếu có sự bất bình xin qúy vị lượng thứ.
1.- Nói chuyện nhân quả luân hồi.
Trích một bài viết nói về nhân quả luân hồi là căn bản của Phật giáo: "Nhân-quả, Luân-hồi, Nghiệp báo là đạo lý căn bản của Phật giáo. Sông biển có thể cạn khô. Mặt trời mặt trăng có thể rơi rụng. Nhưng đạo lý nầy muôn đời không sai." (trích)

Trích kinh "Thiện Ác Nhân Quả" và "Nhân Quả Ba Đời"
...
Người đời nay bệnh hủi, là do đời trước lừa gạt lấy tài vật của người ta.

Người đời nay chết non, là do đời trước hay sát sanh.
...
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.
5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước một nửa không xả thí.
...


Nói "nhân quả luân hồi" là để khuyên, nhắc nhở, răn đe... người ta đừng làm ác mà làm thiện:

- Anh nọ bị chết non, là vì anh ta hay sát sinh ở kiếp trước. Nếu ông/bà muốn kiếp sau trường thọ, thì kiếp này đừng sát sinh....
- Đời này bỏ của ra bố thí, cúng dường,... giống như để dành, thì kiếp sau được hưởng đời sống sung sướng...

Cũng đơn giản dễ hiểu, nhưng cũng cần phải có niềm tin vì đâu có ai thấy được kiếp trước của mình ra sao, nên có thể nói là "không thấy mà tin". Và khi tin như thế thì người ta cố gắng làm thiện, bố thí để mong ở kiếp sau TA được sống sung sướng. Như thế bước đầu cũng là tốt quá rồi.

Nhưng vẫn còn chữ "vì TA" tức là "vị kỷ" [1] ở trong đó, và bố thí, làm thiện là để cầu mong được đền trả ở kiếp sau. Nhưng trong kinh Kim Cang, đức Phật nói là bố thí phải không trụ vào đâu, mới là bố thí ba-la-mật (cách bố thí giúp vượt qua được bờ bên kia, là bờ giác), không nghĩ rằng TA ban ơn bố thí, không màng vật bố thí, không người nhận bố thí (tam luân không tịch), không cầu mong một sự đền trả cho TA (không vị kỷ), "vô sở cầu, vô sở đắc".

Tới trình độ này thì "nhân quả" cũng chấm dứt, "luân hồi" cũng chấm dứt. Vì bố thí, làm thiện... là "nhân" nhưng chẳng hề... cầu "quả" cho mình, đâu còn cầu gì cho... kiếp sau nữa, mà cần kiếp sau! 

Như vậy, cái lý "nhân quả luân hồi" cũng giống như một phương tiện, để dẫn dắt người ta đi tới làm thiện lánh ác, cho tới một lúc nào đó, tới một trình độ mà việc hành thiện nhuần nhuyễn như mọi hành động bình thường, như hơi thở, như đi đứng nằm ngồi, thì ý niệm nhân quả cũng không cần tới nữa. Nếu cứ ôm lấy
"nhân quả", gieo nhân tốt bởi vì mong gặt quả tốt, vì sợ quả xấu mới làm việc thiện, là vẫn còn cầu mong cho mình, là vẫn vương vấn tính vị kỷ, thì cũng có nghĩa là đi tìm cái hạnh phúc đến từ bên ngoài tâm. Đó là ngoại đạo [2] (tìm đạo ngoài tâm).

Vì vậy mà ngài Bồ Đề Đạt Ma nói:

"Muốn thành Phật phải thấy tánh. Nếu chẳng giác ngộ bản tánh thì nói những nào nhân, nào quả đều là pháp ngoại đạo. Nếu là Phật thì chẳng tập theo pháp ngoại đạo.
....
Có người bác cho rằng không nhân quả, tha hồ mà tạo nghiệp ác, vọng nói vốn không, làm ác không tội, con người như thế sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián tối tăm mãi mãi. Nếu là người trí không nên hiểu như thế.
"Nếu chẳng giác ngộ bản tánh thì nói những nào nhân, nào quả đều là pháp ngoại đạo...". Vậy "bản tánh" là gì?
2.- Bản Tánh hay Bản Tâm.
Nhân quả luân hồi là giáo lý căn bản của đạo Phật, thế mà Bồ Đề Đạt Ma lại nói “Nếu chẳng giác ngộ bản tánh thì nói những nào nhân, những nào quả đều là pháp ngoại đạo” là sao?. Ý là khi đã giác ngộ bản tánh, thì ý niệm nhân quả cũng dẹp bỏ, đó chỉ là giai đoạn đầu (hướng dẫn làm thiện tránh ác), là chiếc bè đưa người qua sông. Khi đến bờ bên kia rồi (bỉ ngạn, ba-la-mật) thì dẹp bỏ chiếc bè vì không còn nhu cầu trở về bến mê nữa.
Thánh Paul trong 1 Corinto, cũng có cái nhìn hơi giống như thế:
"Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhân bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ." (1 Cô-rin-tô 13:11)
Khi còn trẻ (ý nói khởi đầu theo đạo), tôi hoàn toàn tin tưởng và hy vọng hay trông cậy vào một vị Thiên Chúa đầy quyền năng ban cho tôi hạnh phúc lúc sống cũng như lúc qua đời (đức tin và đức cậy), chỉ cần tôi biết vâng lời ngài. Nhưng sau cùng tôi nhận ra là chỉ có tình yêu mới là quan trọng trên hết:
Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, đức cậy, tình yêu thương (đức ái); nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương." (1 Cô-rin-tô 13:13)
Vì rằng:
 "Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.
  Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.
  Dầu tôi phân phát gia tài
(BỐ THÍ) để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi." (1 Cô-rin-tô 13:1-3). (Bố thí mà không vì tình yêu thương chân thật thì người bố thí còn mong cầu một sự đền đáp từ đâu đó cho cho bản thân mình, do đó mà vẫn còn mang tính vị kỷ).
Thế thì khi khám phá ra được “tình yêu” ( trong Kitô giáo khi nói tình yêu, nghĩa là tình yêu tha nhân), tức là đã thành nhân rồi, thì những nào là đức tin, nào là đức cậy bèn bỏ đi, giống như bỏ lại chiếc bè đưa người qua sông vậy, tới bến rồi thì bèn bỏ những điều thuộc về trẻ con xưa.
Có tình yêu thương là không có tâm ác. Không mang ác tâm là bổn tâm, hay bổn tánh của con người, là “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Không Ác thì chữ Thiện cũng không còn tồn tại (vì thiện/ác là một cặp nhị nguyên đối đãi, như hai mặt của đồng tiền, cái này có do cái kia có, cái này mất thì cái kia cũng không còn), do đó bổn tánh cũng mang nghĩa “không thiện/không ác” hay tánh không hai. Tánh không hai là Phật tánh. Những câu nói sau đây cho ta cái ý nghĩa của "bản tâm" hay "bản tánh":
Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện (ác), ấy gọi là không hai.... Tánh không hai là Phật tánh. (Lời Đức Phật). Theo đức Phật, Phật tánh là bản tánh con người, ai cũng có sẵn, nhưng bị bao phiền não và vô minh che lấp. Khi vén hết những phiền não và vô minh thì cái bản tánh ấy hiển lộ, đó là tánh không hai hay tâm bất nhị.
Điều lành (thiện) điều dữ (ác) tuy là khác nhau, chớ cái bản tánh không hai (Huệ Năng).--> tức là "bản tánh" của con người vốn không thiện/không ác.
Không thiện, không ác là cái (bản) thể của tâm (Vương Dương Minh) --> tức là "bản tâm" vốn không thiện/không ác 
Cái bản tâm hay bản tánh cũng còn gọi là “bản lại diện mục”:
Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, (ngay lúc ấy, cái gì…) là “bản lai diện mục” (của thượng tọa Huệ Minh) (Huệ Năng)
─ Và hai ông bà Adam và Eve khi chưa biết phân biệt thiện/ác (tức là chưa biết cái ác là gì), là lúc hai ông bà đang ở trong vườn Địa Đàng hay thiên đàng hạ giới, sau khi biết phân biệt thiện/ác thì bị đuổi khỏi vườn Eden, hay là đã đánh mất thiên đường. Vậy bổn tánh (cái tánh đầu tiên của con người, tượng trưng bằng tâm ông Adam và bà Eve) vốn không thiện/không ác.
Như vậy cái "bản tánh" của con người là tánh ban đầu vốn không thiện/không ác, là Phật tánh, tượng trưng cho người đang ở nơi Niết bàn hay địa đàng (Eden). Ngày nay chúng ta biết phân biệt thiện/ác là chúng ta đã vướng vào cái ác. Nếu diệt được cái ác (từ ý nghĩ tới lời nói hành động) là ta trở về với bản tánh, tức là đã "giác ngộ bản tánh".
Cái "ác" từ đâu mà ra? Chẳng cần lý luận dông dài ta cũng biết là nó sinh ra từ những nguời có lòng tham sân si, và tham sân si sinh ra bởi người mang tâm vị kỷ [1] . Hay nói ngược lại, lòng vị kỷ sinh tham sân si, và từ tham sân si sinh ra những tranh giành, xung đột…, từ đó sinh ra cái ác.
Muốn diệt cái ác thì diệt tham sân si. Muốn diệt tham sân si thì phải bỏ lòng vị kỷ, mà nuôi dưỡng lòng vị tha, tức là "bác ái", biết yêu người như yêu chính mình, vì "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13:10). Theo lời đức Phật thì "diệt tham sân si cũng đồng nghĩa với Niết bàn".
Tóm lại, khi biết "yêu tha nhân như yêu bản thân mình" là không còn tham sân si, là không còn ác, chính là đã trở về, hay giác ngộ được cái "bản tánh" không thiện/không ác vốn có của mình vậy. Khi đã giác ngộ bản tánh rồi, thì "những nào nhân nào quả", nào đức tin nào đức cậy, chỉ còn là những suy nghĩ của thời con trẻ, khi đã thành nhân (giác ngộ bản tánh) rồi thì bỏ lại.
Ta thử so sánh một đứa trẻ thơ và một người đã khôn lớn như chúng ta. Trí óc đứa trẻ không bằng so với người lớn đã có trí khôn phát triển để duy trì và nâng cao cuộc sống vật chất, nhưng về mặt tâm hồn thì tâm trẻ thơ chính là cái "bản tánh" của con người, chưa hề có ác nên cũng chẳng có thiện, đó là bản tánh không thiện/không ác, trong khi người lớn đã mang tâm phân biệt thiện ác là đã có cái ác, ít nhất là trong ý nghĩ, nếu chưa bộc phát ra lời nói hay hành động thì cũng sẽ có ngày bộc lộ, nếu không được ngăn chặn. Cái ác đó xuất phát từ lòng vị kỷ. Và khi bỏ được lòng vị kỷ để sống vị tha, không còn tham sân si, là ta bỏ được cái ác, và tâm hồn trở lại cái bản tánh ban đầu giống như tâm hồn của trẻ thơ vậy (dĩ nhiên là trí óc của người lớn vẫn còn, vì trí với tâm là khác nhau). Trở về với tâm trẻ thơ là trỏ lại với nước Trời (vườn Eden cũ), như lời đức Giê-su nói:  “Nếu anh em không quay lại mà trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời . Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” (Mt 18,3)
hay: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng.” (Mt 19,14)
Và hình ảnh trẻ thơ vẫn thường được dùng tượng trưng cho những thiên thần, như trong bức tranh nêu trên.
Tóm lại, "bản tánh" con người là cái tâm không ác, hay không thiện/không ác. Khi đã mang tâm ác, hay có thiện/có ác, tức là đã mang lòng vị kỷ (vì vị kỷ là gốc của cái ác), là đã xa rời "bản tánh". Để trở về với "bản tánh" ta phải bỏ tâm vị kỷ mà học lòng vị tha, và khi biết "yêu người như yêu chính bản thân mình" chính là đã giác ngộ bản tánh. 
3.- Thiên chúa và nghiệp báo, nhân quả.

-- Nói về ân oán, đức Phật khuyên rằng: "hãy lấy ân mà trả oán", điều này ai cũng biết, chỉ có điều khó làm thôi. Thế thì những kẻ làm ác cứ phây phây hưởng ân hay sao?
– Hẳn ý ngài không phải vậy! đã có luật nhân quả, luân hồi, nghiệp báo xét xử. Và bản thân mỗi người chỉ nên chú tâm nuôi dưỡng lòng “từ bi hỳ xả” [3] với mọi người, kể cả với kẻ mắc oán với mình, còn bản thân kẻ ác sẽ bị xét xử theo luật nhân quả luân hồi. Như vậy mới xoá được lòng sân hận trong tâm mình. Không sân hận thì tâm hồn được bình an vì sân hận là một trong tam độc tham, sân, si. Diệt tham sân si là Niết bàn là lời đức Phật.

-- Với Kitô giáo, đức Jesus nói về ân oán cũng tương tự như vậy:
"... hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (Lc 6:27-28)

Thế thì ai sẽ trừng trị những kẻ ác, không lẽ chúng cứ phây phây hưởng ân hay sao? Câu trả lời là chính Thiên chúa sẽ báo oán, sẽ trừng phạt. Còn bản thân mỗi người hãy học lấy "yêu mọi người như yêu chính mình" dù đó là kẻ thù. Đây là giải thích của thánh Phao-lô:

"...Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Ðức Chúa Phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Ðừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác. (Rm 12:19-21)

Như vậy,tóm tắt lại :
-- Với Phật giáo: hãy lấy ân trả oán. Còn với những ai làm ác đã có luật nhân quả, nghiệp báo... xét xử thanh toán.
-- Với Kitô giáo : hãy lấy ân trả oán. Còn với những ai làm ác đã có Thiên chúa... xét xử và thanh toán.

So sánh như thế, thế thì có vẻ như Thiên chúa cũng chính là luật nhân quả luân hồi nghiệp báo. Chữ thì có khác nhưng nghĩa thì lại giống nhau, "y nghĩa bất y ngữ".
Thiên chúa hay chúa Trời cũng như cách nói ông Trời bên phương đông, hay là nói Thượng đế, đấng Tạo Hóa, con Tạo... tượng trưng cho cái gốc của vũ trụ, vạn vật và con người, bao gồm cả các định luật thiên nhiên lý hoá, luật vô thường luật nhân quả luân hồi .... Vậy thì nếu nói kẻ làm ác bị luật nhân quả luân hồi xét xử cũng như nói là do Thiên chúa xét xử hay trừng phạt vậy.
Nói Thiên chúa phạt hay nhân quả luân hồi cũng là để hướng người ta bỏ cái ác mà làm thiện để tới cái đích cuối cùng là "thương người như thể thương thân", là trở về với bản tánh (bản tâm), giống như tâm ông Adam và bà Eve, hoặc tâm đứa trẻ thơ, vốn không thiện/không ác./.
 
Cung Đàn
Jan-2010

Home             Top            

GHI CHÚ:

[1] Tâm vị kỷ cũng mang nghĩa tâm phân biệt  TA/NGƯỜI

[2] Tâm Đạo và Ngoại Đạo : 

Cũng có người theo tôn giáo này cho rằng người theo tôn giáo khác là ngoại đạo. Theo một định nghĩa khác, chữ "ngoại đạo" mang ý nghĩa "tìm đạo ở ngoài tâm", chứ không phải là những đạo khác với đạo của ta.

Con đường đi tìm tình yêu  “yêu tha nhân như yêu chính mình” hay “tâm bất nhị”, là con đường đem lại hòa bình, hạnh phúc, bình an cho tất cả mọi người trong đó có mình, là đích đến chung của Phật giáo và Ki-tô giáo. Con đường đó mới là “Đạo” chân chính. Điều này chỉ tìm được, và phải tự chính mình tìm ở trong TÂM chính mình mà thôi: đó là "tâm đạo".
Còn nếu hướng ra ngoài tâm để tìm đạo, tìm Thiên đàng, hay Niết bàn như là một cảnh giới ở đâu đó bên ngoài tâm, hoặc theo đuổi hạnh phúc do điều kiện bên ngoài như tiền tài, danh vọng, quyền lực, tình yêu vị kỷ, hơn thua, thắng bại… thì đó mới chính là “ngoại đạo”, tức tìm Đạo ngoài Tâm.
Khi còn mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI, là còn muốn tranh giành hơn/thua, được/mất, còn lòng vị kỷ, còn duy ngã độc tôn... thì chẳng đâu là Thiên đàng hay Niết bàn được cả. 
Khi không còn tâm phân biệt TA/NGƯỜI, sống vị tha không vị kỷ, sẽ không còn tranh giành hơn/thua, được/mất... thì cho dù ở đâu cũng là Thiên đàng hay Niết bàn. "Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người ấy", hoặc "tánh không hai là Phật tánh"./.

[3] Tứ vô lượng tâm "Từ - Bi - Hỷ - Xả"
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh.
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (mang cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Ki-tô giáo)
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (mang cùng ý nghĩa "vui cùng người vui" trong Kinh Thánh) ,không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc.
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).
Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha” hay "yêu người". Nội dung cũng giống như hai chữ "tình yêu" trong Ki-tô giáo.

 



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com