|
TRÍ và TÂM
TRÍ PHÂN BIỆT và TÂM PHÂN BIỆT
(Hậu quả của tâm phân biệt nhân - ngã)
-----
4.- DUY NGÃ ĐỘC TÔN và TÂM PHÂN BIỆT NHÂN NGÃ.
Nhìn tới nhìn lui, nhìn trái nhìn phải, nhìn lên nhìn xuống, ta thấy "hầu như" tất cả mọi người, xưa cũng như nay, ai cũng coi trọng cái TA (ngã) hơn hết như thế, luôn tự cho mình là đúng, là hay, là hợp lý…. Rất dễ nhận thấy trong mọi hành động, mọi cuộc tranh cãi, ai cũng tìm mọi lý lẽ, kể cả ngụy biện, thủ đoạn để chứng tỏ là mình đúng còn người khác là sai hoặc không bằng, để dành phần thắng, ngay cả khi mình... sai! Tranh cãi với người ngoài để bênh vực cho mình hoặc người thân, nhưng rồi trong nhà khi xảy ra tranh cãi với chính người thân, ví dụ vợ chồng cãi nhau, anh em tranh luận…, ai ai cũng cho lý lẽ của mình là phải, là đúng để dành cho được phần thắng cho chính mình !...Vợ chồng ly thân, gia đình ly tán cũng từ đó.
Đó là cái tâm muôn đời của con người !
Đó cũng chính là nhận định của đức Phật về tâm lý con người, trong câu nói đầu tiên, khi ngài còn là thái tử Tất-Đạt-Đa: "Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn" , nghĩa là : Từ trên tầng trời kia, xuống tới dưới gầm trời này, (con người ta, ai cũng tự cho rằng) chỉ có TA là tôn qúy hơn cả.
Đó là một sự thật về tâm lý con người, là đầu dây mối nhợ cho mọi phiền muộn của đời người, mà chúng ta ai cũng có thể căn cứ vào đó mà soi rọi vào tâm chính mình để nhận ra(quán chiếu, chiếu kiến) cái sự thật ấy: Đó là ai cũng tự cho cái "TA và CỦA TA" là tôn qúy hơn hết ! Đó cũng là lòng vị kỷ
Trong ý nghĩa của “duy ngã độc tôn”, vì có TA (ngã) "độc tôn" hơn tất cả, nên đối tượng so sánh phân biệt “hơn” phải là NGƯỜI khác (nhân), nên “duy ngã độc tôn” có cùng một ý nghĩa với “tâm phân biệt nhân-ngã”. Một từ ngữ khác cũng cùng nghĩa là "lòng vị kỷ" hay "lòng vị ngã", hay "chấp ngã", vì có nghĩa là chỉ vì TA hơn là vì NGƯỜI. Và tóm tắt:
Duy Ngã Độc Tôn = Phân Biệt Nhân-Ngã = Vị Kỷ = Vị Ngã = Chấp Ngã
(Vị kỷ [1] , vị ngã mang nghĩa "chỉ vì lợi ích của TA", mà quên lợi ích của NGƯỜI)
5.- NHỮNG HẬU QỦA của TÂM PHÂN BIỆT NHÂN-NGÃ hay DUY NGÃ ĐỘC TÔN
Giáo lý Phật có nói tới những nguyên nhân đưa đến tội ác và phiền não, trong đó những nguyên nhân hàng đầu phải kể là tham, sân ,si, kiêu mạn. Còn trong Thiên Chúa giáo nguyên nhân tội ác hàng đầu là lòng ganh tị, tính kiêu mạn, và dĩ nhiên là cả tham sân si. Thực ra thì tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị cũng có tương quan với nhau, vì có khi tham sinh sân hận, sinh ganh tị, sinh kiêu mạn…
Ta hãy thử tìm nguyên nhân đã sinh ra lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị và cái ác.
5.1.- Tham, Sân, Si và cái Ác từ đâu mà có ?
─Tham : bắt nguồn từ tâm phân biệt nhân-ngã (tức vị kỷ, vị ngã).
Vì tự cho cái TA là hơn hết, là trước nhất, là tôn qúy hơn cả, quyền lợi và hạnh phúc của ta là trên hết, cho nên ta luôn luôn tìm cách chiếm lĩnh những cái hơn về của cải, tiền tài, danh vọng, quyền lực, sắc đẹp…cho bản thân ta. Đấy là "tham". Từ đó ta tìm cách chiếm lĩnh những gì mình muốn, có khi bất kể thủ đoạn để vượt qua tở ngại, quật ngã đối thủ. Đó là sự hình thành tâm ý ác, sinh ra hành động ác và lời nói ác.
Ai cũng tham, đưa tới tranh giành nên có được/mất, hơn/thua, thắng/bại... "Mất" là khổ đã đành, nhưng "được" tuy có đem đến vui, nhưng chỉ là vui nhất thời, vì theo lý vô thường, có được thì cũng tới lúc mất, và sự mất to lớn nhất là cái chết, chẳng ai tránh được, nên vui cũng sẽ đổi thành lo lắng buồn khổ.
─ Sân : Lòng sân hận cũng bắt nguồn từ tâm phân biệt nhân-ngã.
Vì tự cho cái TA là hơn hết, là trước nhất, là tôn qúy hơn cả, cho nên khi có người đụng chạm, chê bai ta, hay giành giật cái gì của ta, tức là làm tổn thương tới cái ngã đáng tôn qúi của ta, làm ta bừng lên cơn giận, và tìm cách trả thù cho hả cơn giận. Thế là tâm ý ác thành hình, và đưa tới hành động ác, hoặc lời nói ác. Sự trả thù cũng lại dẫn đến thắng/bại, hơn/thua và phiền não.
─ Si : Nói theo ngôn ngữ Việt Nam thì chữ Si vừa thuộc lãnh vực của Tâm vừa mang ý nghĩa của Trí.
"Tâm si mê", là gắn liền, trói buộc tâm mình với một số đối tượng trần cảnh, (một người, một vật hay một cảnh nào đó) muốn giữ mãi cho mình, thường trong Phật giáo hay dùng chữ “ái dục” hay “tham dục”, ví dụ một người con trai yêu si mê một cô con gái, đưa tới ý muốn chiếm giữ cô cho riêng mình mãi mãi. Muốn chiếm giữ cho riêng mình (ta) cũng là chấp ngã, vị kỷ, vị ngã. Tâm si mê thường đưa tới đau khổ phiền não, vì cái đối tượng mình si mê thế nào rồi cũng tới lúc mất theo lý vô thường, và khi mất thì gây khổ đau.
" Trí óc ngu si" thuộc về Trí. Đó là sự tăm tối của trí óc, chỉ biết tuân theo đòi hỏi của cái tâm tham và sân, không biết hướng dẫn tâm tránh điều ÁC. Nói rộng hơn thì ngu si cùng nghĩa với vô minh, là không nhận ra đúng lẽ thật, lẽ phải.
Khi đã có cái ÁC thì chữ THIỆN xuất hiện thành một cặp phân biệt nhị nguyên THIỆN-ÁC . Nói theo liên hệ nhân quả thì thiện ác là "quả" của cái "nhân" tham-sân-si, và tham-sân-si lại là "qủa" của cái "nhân" tâm phân biệt nhân ngã. Như vậy là cái nhân đầu tiên của mọi phiền não trên đời chính là "tâm phân biệt nhân-ngã" (chấp ngã) hay “duy ngã độc tôn”. Ta có thể tóm tắt như sau:
Tâm phân biệt nhân-ngã (Duy ngã độc tôn) --> Tham-Sân-Si --> tội ác (--> thiện/ác)
5-2.- Lòng Kiêu Mạn và Lòng Ganh Tị.
─ Lòng kiêu mạn từ đâu mà có ?
Cũng lại phát xuất từ tâm phân biệt nhân-ngã (chấp ngã, vị kỷ): trong cuộc sống chung, trong các tranh chấp,nếu hơn người, thắng người… thì cho mình là tài giỏi, lên mặt khinh khi kẻ khác, không bằng mình, mục đích để tôn mình lên. Đó là kiêu mạn. Cùng với kiêu mạn, trong ngôn ngữ Việt Nam có thêm các từ tương tự : kiêu ngạo, kiêu căng, kiêu hãnh. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra ghen ghét, ganh tị và thù hận, rồi chiến tranh và tội ác.
─ Lòng ganh tị từ đâu mà có?
Cũng khởi sinh từ tâm phân biệt nhân ngã (chấp ngã, vị kỷ). Khi đã chấp ngã, con người cho cái ta là phải hơn, là nhất, là đúng, là đáng tôn trọng hơn cả.... Thế nên khi thấy có người hơn mình (nhất là người đó lại ngang hàng với mình, cùng địa vị như mình hay thấp hơn mình), thì cảm thấy tức tối vì thua kém, bị tổn thương, cho dù sự hơn kém ấy có khi chỉ là bẩm sinh chứ không hẳn là người khác cố ý vượt trội hơn mình. Đó là lòng ganh tị. Ganh tị thường đưa dến sự căm ghét, thù hận, và dễ dàng dẫn tới xung đột và tội ác.
Tóm lại, tâm phân biệt nhân ngã (duy ngã độc tôn) --> kiêu mạn, ganh tị --> tội ác (--> thiện/ác)
6.- VÔ NGÃ và VỊ THA.
Với tâm phân biệt nhân ngã, con người có lối sống vị kỷ, chỉ lo cho chính mình mà quên đi quyền lợi và hạnh phúc của người. Đó chính là nguyên nhân sinh ra tâm tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, ganh tị, đưa con người tới cái ác và bao điều phiền muộn cho chính mình và cho người khác.
Ngược lại với vị kỷ là vị tha, là sống vì mọi người, sống vì tha nhân.
Tưởng tượng nếu có một người sống hoàn toàn với lòng vị tha, người ấy yêu thương mọi tha nhân như chính bản thân mình, chỉ nghĩ tới chuyện cho đi, chứ không bao giờ lại toan tính chiếm lĩnh cho riêng mình, chỉ nghĩ làm điều ích lợi cho mọi người…, điều này có nghĩa là tâm phân biệt giữa TA và NGƯỜI đã được giảm nhẹ hay xóa bỏ. Khi đã không còn phân biệt ta-người nữa thì không còn tham sân si, không kiêu mạn hay ganh tị, do đó không còn cái ác, nên cũng không còn phiền não đối với người đó.
Lại tưởng tượng thêm, nếu trong một tập thể, mọi người đều sống hoàn toàn với lòng vị tha như vậy, thì đó hẳn là một cảnh giới của sự bình an.
“Quên cái ta” để sống “vị tha” hẳn là ý nghĩa chữ “vô ngã” trong đạo Phật.
■…Một hôm có người đến hỏi Thiền sư Duy Khoang: "Đạo ở đâu?" Sư đáp: "Đạo ở trước mắt" - "Sao tôi không thấy?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Vì ngươi đang bận nghĩ tới ta (ngã) cho nên không thấy" -" còn Hòa Thượng có thấy không?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Hễ còn bận nghĩ tới ta, ngươi thì đều không thấy" - "Khi không còn bận nghĩ tới ta, ngươi nữa thì có thấy không?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Khi không còn có tâm phân biệt bận nghĩ tới ta, ngươi, thì bấy giờ ai hỏi đạo ở tại đâu?"
Khi không còn phân biệt ta-người nữa thì đó chính là đã đạt Đạo, chẳng phải tìm tòi xem ở Đạo ở đâu nữa.
■ Về nguyên nhân của xung đột và chiến tranh, đức Phật nói: “Một nguyên nhân nữa của chiến tranh và xung đột là sự so sánh giữa mình và người, xem các người khác là bằng mình, hơn mình hay thua mình”.
Về hơn thua, đức Phật nói: “Thắng trận sinh thù oán, bại trận nếm khổ đau, Ai bỏ thắng bỏ bại, tịnh tịch hưởng an lạc.
■ Trong Gia Huấn Ca, Nguyễn Trãi dạy : hãy “thương người như thể thương thân”(không phân biệt Ta/Người)
■ Lời chuá Jesus: “hãy yêu tha nhân như chính mình” (không phân biệt Ta/Người) (Mt 12,31)
■ Lời Thiên Chúa: “Ngươi hãy yêu mến tha nhân như bản thân mình” (Lv 19,18)
■ Lời đức Phật trong kinh Kim Cang: “…Một vị bồ tát mà còn mang ý niệm về ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì chưa phải là một vị bồ tát” . (Còn mang tâm phân biệt ta/người, ta/chúng sinh, ta/thọ giả, tức là còn tâm phân biệt nhân-ngã, thì không thể là một vị bồ tát)
Đó là những lời dạy con người hãy sống vị tha hay vô ngã, hay loại bỏ tâm phân biệt Ta/Người, nếu muốn đạt được hạnh phúc cho chính mình và cho người khác.
7.- ĐẠO.
Cái ác cùng những đau khổ phiền não trên đời bắt nguồn từ tâm “phân biệt nhân ngã” hay “duy ngã độc tôn”, gọi chung là tâm phân biệt hay chấp ngã, hay dùng chữ phổ thông hơn là lòng vị kỷ hay ích kỷ. Tâm phân biệt sinh ra tham-sân-si, kiêu mạn, ganh tị… và từ đó dẫn tiếp tới thiện ác, vui buồn, ân oán…
Tâm phân biệt nhân ngã (vị kỷ)
(duy ngã độc tôn)
(TA hơn NGƯỜI)
↓
Tham sân si, kiêu mạn, ganh tị
↓
Tranh giành, xung đột, thủ đoạn
↓
được-mất, hơn-thua, thắng-bại, thiện-ác…
↓
vui-buồn, sướng-khổ, giàu-nghèo, khinh-trọng, bạn-thù, ân-oán…
Hai tôn giáo lớn là Thiên Chúa giáo và Phật giáo, đều có khởi đầu giống nhau, từ tâm phân biệt, tuy cách trình bày có khác nhau đôi chút:
■ Phật giáo khởi đầu bằng nhận định của đức Phật, ở câu nói đầu tiên trong đời ngài: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Duy ngã độc tôn cũng là "phân biệt nhân-ngã” là nguyên nhân hàng đầu của tham sân si, kiêu mạn, ganh tị, … từ đó sinh cái ác, đau khổ, phiền não… Tận diệt được tham, sân, si cũng là tận diệt tâm "phân biệt nhân ngã" hay là tận diệt lòng vị kỷ để sống vị tha. Và theo đức Phật, khi đã tận diệt tham sân si, đó chính là Niết bàn, qua lời nói : "Đồng nghĩa với Niết bàn, này các tỳ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si".
■ Thiên Chúa giáo khởi đầu bằng sự phát khởi phân biệt thiện ác, tượng trưng bằng hành động ăn "trái cấm" của ông Adam và bà Eva, để rồi hai ông bà "biết phân biệt thiện ác", và cả loài người bước vào thế giới của thiện ác. Biết “phân biệt thiên ác” là đã mang tâm “phân biệt nhân-ngã”, vì chính tâm "phân biệt nhân ngã" sinh ra "ác và thiện". Tâm “phân biệt nhân-ngã” là nguyên nhân hàng đầu của tham sân si, của kiêu mạn, ganh tị, … từ đó sinh cái ác, có ác nên có thiện, và có phân biệt thiện ác.…. (xin trở lại câu chuyện thiện ác trong một bài sau "Thiện và Ác")
Con đường (đạo) diệt trừ tội ác, phiền não, khổ đau hẳn là phải loại trừ cái nguyên nhân hàng đầu ấy (tâm phân biệt nhân-ngã hay lòng vị kỷ), để cái tâm trở lại với thuở ban đầu, cái “bản tâm”, đơn sơ, thanh tịnh, trống vắng: đó là trở lại thời kỳ trước khi khởi tâm phân biệt, là tâm của Adam trước khi biết phân biệt thiện ác. Đó là vườn địa đàng, thiên đàng đã mất, bên Thiên Chúa giáo. Đó cũng là Niết bàn hay “bờ bên kia” hay “đáo bỉ ngạn” nói trong kinh sách Phật giáo.
Làm sao để đến được “bờ bên kia”, hay tìm lại thiên đường đã mất? ─ là theo lời chỉ dạy của đức Phật, gọi là Phật pháp, hoặc theo lời chỉ dẫn của chúa Jesus, tùy theo tín ngưỡng của mỗi người.
Hai con đường có khác nhau nhưng cái đích là một: đó là tìm cách triệt hạ cái "Tâm phân biệt Ta/Người" hay là lòng vị kỷ, nguyên nhân chính của tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị, tranh giành, xung đột, cái ác và sầu khổ. Không còn "tâm phân biệt Ta/Người" là "không yêu Ta hơn Người", mà là "yêu tha nhân như chính bản thân mình", khi đó mọi hành động của Ta là vì hạnh phúc của Người, và hạnh phúc của Người cũng chính là hạnh phúc của Ta. Không còn tham, sân, si, kiêu mạn, ganh ti... là nhẹ nhàng, là tự do vì không bị ràng buộc lôi kéo bởi tham sân si, là ý nghĩa chữ "giải thoát" trong đạo Phật, đó là tìm được Niết bàn hay Thiên đàng ở trong tâm mình. Nếu mọi người đều được "giải thoát" như thế thì đấy là cảnh giới Niết bàn hay Thiên đàng chung cho xã hội con người.
Ở đây, xin được nhắc lại, tâm phân biệt khác với trí phân biệt. Một người có cái trí phân biệt của nhà bác học Albert Einstein, đồng thời vẫn có thể mang cái tâm vị tha. Vị tha là không vị kỷ, là “không phân biệt ta người”, không có gì là mâu thuẫn.
Xin tóm tắt dưới đây sự khác biệt giữa TRÍ và TÂM:
TRÍ chủ yếu về "ngũ quan + khả năng suy nghĩ của khối óc" (lục căn), còn TÂM thiên về tình cảm thường được cho là từ con tim. Ví dụ: một bà mẹ có đứa con bệnh, bà dồn cả TÂM và TRÍ (tình yêu của người mẹ + vận dụng trí óc) để chăm sóc đứa con, trong khi người y tá có thể chỉ cần trí óc và khả năng chuyên môn là đủ. Ví dụ khác: khi ta sửa cái xe để đi làm, ta chỉ cần trí óc và sự khéo léo, không cần tình cảm (tâm). Do đó TRÍ phân biệt và TÂM phân biệt cũng khác nhau:
-Tâm phân biệt (tâm nhị nguyên)
là tình cảm phân biệt yêu/ghét, bạn/thù, ân/oán, vui/buồn... nhưng quan trọng nhất là phân biệt TA/NGƯỜI, "yêu TA hơn NGƯỜI" (tình cảm phân hai, là nhị nguyên, hay nhị nguyên phân biệt, hay nhị nguyên đối đãi)
là: không yêu/ghét, không bạn/thù, không ân/oán, không vui/buồn..., quan trọng nhất là không phân biệt TA (hơn)/NGƯỜI, ý nghĩa là TA với NGƯỜI bình đảng, "yêu NGƯỜI như bản thân TA", TA = NGƯỜI. (tình cảm như nhau, không phân hai bên trọng bên khinh, nên là tâm bất nhị hay tánh không hai)
-Trí phân biệt là cái thấy phân biệt khác nhau khách quan giữa mọi người mọi vật, ai cũng thấy như ai. Ví dụ ai cũng phân biệt được hoa Hồng khác hoa Cúc (khách quan), nhưng cô A mê (yêu) hoa Hồng ghét hoa Cúc, ông B thích hoa Cúc hơn hoa Hồng, đó là tình cảm (tâm) yêu/ghét khác nhau (yêu/ghét là "tâm phân biệt", có tính chủ quan).
-Trí không phân biệt là người... mất trí.
Không kể tới người mất trí, ta còn hai hạng người:
(1) Người có "TRÍ phân biệt + TÂM phân biệt (nhị nguyên)" = phàm phu
(2) Người có "TRÍ phân biệt + TÂM không phân biệt (bất nhị) = Phật tánh, giác ngộ ./.
(2)
Duy Đức.
(Jun-2008)
___
[1] "Vị kỷ" là vì TA, là bản năng tự nhiên của con người và các sinh vật khác. Khi đói, khát, ta ăn, ta uống là vì TA; khi bị mối đe dọa làm đau đớn thì ta tìm cách tự vệ, là vì bản thân TA... Đây là chuyện bình thường tự nhiên, nên "vị kỷ" vốn không mang nghĩa xấu.
Thế nhưng với hầu hết con người đều vì mình một cách thái quá, và chữ vị kỷ thường không còn mang nghĩa đơn giản là "vì TA" nữa mà thành... "chỉ vì TA", hàm ý tham lam chỉ muốn lợi cho mình, mà không đếm xỉa hay coi nhẹ NGƯỜI khác. Thành ra chữ "vị kỷ" thường được hiểu với hàm ý xấu. Cũng như chữ "ích kỷ" thường mang nghĩa xấu, là vì con người thường "ích kỷ" kèm theo "hại nhân", chứ không như lời đức Phật khuyên "yêu mình thì chớ hại người".
|