ĐAU và KHỔ
---
Nỗi “khổ đau” của con người gồm hai phương diện thân xác và tâm lý. Về thân xác có lẽ chỉ dùng chữ “đau” là đủ, còn về tâm lý mới là “khổ”, như ý trong câu nói sau đây của đức Phật:
“Cái khổ bị uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng ở địa ngục chưa phải là khổ, cái khổ làm thân trâu ngựa cũng chưa phải là khổ. Vô minh không biết lối đi, đó mới là khổ” .
Uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng, làm thân trâu ngựa... là những cái đau của thể xác, theo đức Phật chưa đúng nghĩa của chữ khổ mà ngài muốn nói.
Cái đau thể xác chưa đáng được kể là khổ, thế thì cái khổ là gì? Với con người đời thường, gọi là phàm phu, mỗi khi tiếp nhận một nỗi đau của thể xác, hoặc những gì mà mình không mong muốn (nghèo khó, thua thiệt, đau bệnh...), thì sinh ra những ganh ghét, bứt rứt, dằn vặt, sợ hãi, bực tức tận trong tâm can mình. Đó mới chính là cái khổ, cái khổ về tâm lý. Tâm lý khổ này có tính rất là chủ quan, vì với cùng một nguyên nhân như nhau, có người cảm thấy khổ nhiều, có người khổ ít, có người không khổ; ví dụ có người nghèo túng thì cảm thấy khổ (nghèo khổ), nhưng cũng có người nghèo túng vẫn an nhiên tự tại. Không biết nguyên nhân cái khổ tâm lý ở đâu ra để mà loại trừ, là "vô minh không biết lối đi, đó mới là khổ".
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức Phật có nói về cái đau thân xác và cái khổ nơi tâm can như sau:
“…kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.”
…bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.”
Đoạn kinh này cho ta thấy có hai cái khổ khác nhau: 1/ Khổ về thân xác (cảm thọ khổ về thân, xin nói nôm na là “đau”) -- 2/ Khổ tâm lý (cảm thọ khổ về tâm, đây mới là “khổ” tâm lý). Cảm thọ về thân từ những nguyên nhân bên ngoài tác dụng vào thân, và cảm thọ về tâm, tùy người, phát xuất từ bên trong con người (nội tâm) đáp ứng lại với nguyên nhân tác động bên ngoài.
-- Một kẻ phàm phu khi chịu một nỗi đau thân thể (cảm thọ khổ về thân), thì đồng thời trong tâm -> sinh ra tình cảm "sầu muộn", tức là cảm thọ về tâm (đây chính là tâm lý khổ), -> để rồi đưa đến hành động "than vãn, khóc lóc, đấm ngực, oán hận...". Như vậy kẻ phàm phu có hai cảm thọ: cái đau của thân thể, từ đó sinh ra cái khổ trong tâm hồn.
Thế nhưng, với một người khác, ví dụ như một vị tu sĩ đã giác ngộ (bậc đa văn thánh đệ tử, như ví dụ trong đoạn kinh nói trên) tuy có cùng cái đau thân thể như kẻ phàm phu nói trên (cảm thọ khổ về thân), nhưng không mang nỗi “sầu muộn”, tức là không có “cảm thọ khổ về tâm” (không phát sinh tâm lý khổ), do đó không đưa tới “than vãn, khóc lóc, đấm ngực, oán hận...”. Nơi vị này chỉ một "cảm thọ về thân" là cái đau thân thể và dừng ở đó.
-- Một cô gái bị một vết thương ở mặt vì một tai nạn, có thể làm dung nhan cô xấu đi. Cái đau thân thể thì bất kỳ ai bị tai nạn như vậy cũng cảm nhận, gọi là “cảm thọ khổ về thân”, nhưng tác động tâm lý làm cô gái sầu muộn vì dung nhan cô bị xấu đi, và đẩy cô tới than vãn, khóc lóc, oán trách, thù hận…. Đó là khổ, là “cảm thọ khổ về tâm”, là nỗi khổ tâm lý, và nỗi khổ này có thể kéo dài cả cuộc đời. Như vậy, nơi cô gái này có cả hai cảm thọ khổ: nỗi đau của thân xác và nỗi khổ tâm lý (cô gái này so sánh với “kẻ vô văn phàm phu”)
Nhưng nếu cô là người bình dị không quan tâm đến bề ngoài, không đua đòi so sánh cùng bè bạn, thì cô sẽ không bị nỗi khổ tâm lý dày vò như thế; trong trường hợp này nơi cô gái không phát sinh “cảm thọ khổ về tâm”, nghĩa là tâm cô bình an thanh tịnh. Như vậy, nơi cô gái chỉ có một cảm thọ khổ về thân (cái đau của thân thể) mà thôi, và không bị nỗi khổ tâm đeo đẳng.
Nghèo khó, đau bệnh, tật nguyền, dung nhan xấu xí, già lão, mất người thân, mất tiền của, mất sự nghiệp, cho đến sắp mất cả cái thân mình… đều có thể nói chung là “cái đau” của thân thể, gọi là “cảm thọ khổ về thân”. Có người khi gặp phải “cái đau” này vẫn "chấp nhận" [1] chúng và sống chung với chúng một cách thanh thản, bình thường, nhưng dường như phần nhiều thì sầu muộn, than khóc, oán trách, …, nếu không nói ra thì cũng âm thầm, dằn vặt, chịu đựng, đó mới chính là cái khổ của tâm hồn, gọi là “cảm thọ khổ về tâm”. Cái khổ về tâm này là cái mà đức Phật muốn ta ngăn chặn hay tiêu diệt.
Thế nhưng tại sao lại sinh ra cái “cảm thọ khổ về tâm” như vậy?
-- Một người nghèo khó, sở dĩ cảm thấy khổ là vì so sánh thua kém người giàu hơn, nhất là khi so sánh với những người quen biết, vốn có cùng điều kiện tương đương với mình, mà nay họ giàu có hơn mình. Đây cũng là sự ghen tị.
-- Một người tật nguyền, hay dung nhan xấu xí…, so sánh thân mình với người khác, thấy mình thua kém mà ganh tị, than trách tạo hóa bất công, cũng từ đó đưa tới khổ.
-- Mất người thân, mất tiền của, mất sự nghiệp, cho đến sự chết… nằm trong lý vô thường… có "được" thì cũng sẽ có "mất", có sinh thì phải có diệt, là lẽ tự nhiên, nhưng khi mang lòng vị kỷ thì vô thường trở thành... khổ (KHỔ và VÔ THƯỜNG) ...
Lòng ganh tị xuất phát từ tâm phân biệt, hay từ lòng vị ngã, vị kỷ. Lòng vị kỷ là nhân của tham sân si, kiêu mạn, ganh tị... "có tham sân si là có đau khổ, không tham sân si là không có đau khổ". Vô thường là lẽ tự nhiên, nhưng với con người mang thêm lòng vị kỷ thì vô thường cũng đưa tới khổ. Đây là "cảm thọ khổ về tâm"
Tóm lại, nguyên nhân sâu xa của nỗi khổ vẫn là tâm vị kỷ , hay ích kỷ. Tâm vị kỷ cũng là tâm phân biệt , (vì "vị kỷ" là chỉ vì TA, ưu tiên cho cái TA hơn NGƯỜI, tức "yêu TA hơn yêu NGƯỜI", đó chính là tâm phân biệt TA/NGƯỜI, hay tâm phân biệt) ./.
DUY ĐỨC
Aug/23/2010
GHI CHÚ:
[1] "chấp nhận" ở đây chỉ mang ý nghĩa không chạy theo các tình cảm như ganh tị vì thua kém, không oán hờn, trách móc... tạo thành nỗi khổ tâm. Còn đối với công việc, hành động, vẫn cứ làm với khả năng của mình để cải thiện những thiếu sót của mình, chứ không phải "chấp nhận" theo thuyết định mệnh là buông xuôi. Ví dụ: Ta nghèo hơn người khác, ta chấp nhận nghĩa là không ganh tị với người. Ngược lại, nên hoan hỉ được với thành đạt và hạnh phúc của người khác (đây là ý nghĩa chữ HỶ trong tứ vô lượng tâm từ bi hỷ xả trong đạo Phật, cũng là "vui cùng người vui" trong Kitô giáo), được như vậy thì không bị nỗi khổ tâm hành hạ. Nhưng về công việc, vẫn cứ làm với hết khả năng của mình để biến cải cái nghèo của mình thành khá hơn, vì chẳng những ta làm cho bản thân ta mà ta còn làm cho mọi người trong tình thần vì người tức vị tha, chứ không quan niệm rằng định mệnh ta như thế không thể thay đổi mà buông xuôi.