DUY NGÃ ĐỘC TÔN
------
Theo một số kinh sách viết về lịch sử Phật giáo, đức Phật Thích Ca, lúc còn là thái tử Tất Đạt Đa, ngay sau khi được đản sanh, ngài bước bảy bước, dưới mỗi bước chân bừng nở một bông sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, và nói:
“Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn”

Ngày nay, có khá nhiều giải thích khác nhau về câu nói này, phần nhiều suy luận dựa vào giáo lý giác ngộ của đức Phật. Nhưng thực ra lúc nói những lời này ngài chưa phải là đấng giác ngộ.
Khi trưởng thành, thái tử Tất Đạt Đa ra ngoài thành thăm thú dân tình, chứng kiến cảnh sanh lão bệnh tử, và từ đó mới thấy rõ được nỗi khổ của kiếp người. Và một hôm ngài gặp và được sự gợi ý của một đạo sĩ, ngài chợt nhận ra là tu hành có thể là con đường đưa đến thoát khổ. Tới năm 29 tuổi, ngài từ bỏ giàu sang phú qúy, cái hạnh phúc tạm thời, xuất gia tìm chân hạnh phúc và con đường cứu khổ cho nhân loại. Ngài đã tới nhiều đạo sĩ để tìm học, trải qua một thời gian tu khổ hạnh, nhưng không kết qủa, và cuối cùng, ngài quyết định tự mình suy nghĩ tìm tòi. Và tới năm 35 tuổi ngài mới thành đạo, đó là đạo Phật, đạo giác ngộ, vì "phật" nghĩa là giác ngộ.
Hẳn là tác giả viết tiểu sử ngài đã cố ý nhấn mạnh cho ta biết đây là câu nói lúc ngài chưa thành đạo, khi nói ngài... mới đản sinh. Vì vậy, chúng ta không thể lấy "giáo lý giác ngộ" của ngài, 35 năm sau, ví dụ các khái niệm Phật tánh, tâm bất nhị, vô ngã, lý trung đạo, lý duyên khởi, tứ diệu đế, tánh không..., để giải thích. Do đó câu nói : “thiên thương, thiên hạ, duy ngã độc tôn”, có thể hiểu với cái nghĩa bình thường, nhưng rất là quan trọng, là nói đến cái tâm lý rất phổ biến nhưng cũng lại rất là nguy hại của con người, đó là :
“Từ trên tầng trời kia, tới dưới gầm trời này, (con người ta, ai cũng tự cho rằng) chỉ có TA là đáng tôn qúy hơn cả”. (1)
(Ngày xưa, người ta vẫn cho rằng trên trời cũng có những con người, nhưng cao trọng hơn, như ngọc hoàng, tiên ông, tiên nữ…, còn dưới đất là người trần cư ngụ.)
Khi mang tâm “duy ngã độc tôn”, con người tự (hay muốn, hay tranh giành) cho cái TA hơn NGƯỜI khác, nên cũng mang ý nghĩa của tâm "phân biệt TA NGƯỜI" (Ta hơn Người), hay chấp ngã, hay phổ thông hơn là dùng chữ vị kỷ hay ích kỷ. Vì ai cũng tự cho mình là đúng, là hợp lý, là nhất, là hơn, là được ưu tiên, …v.v…nên sinh ra Tham (muốn thâu tóm những cái hơn về Ta), Sân (khi nguời khác đụng chạm tới quyền lợi Ta, phê bình hay phỉ báng Ta), Kiêu mạn (khi mình hơn người thì có ý khinh người, làm người khác ghen ghét), Ganh tị (thấy người khác hơn thì tức tối ghen ghét, tìm cách hạ người xuống).
Từ tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, sinh ra những tranh giành, xung đột…, do đó mà có được/mất, hơn/thua, thắng/bại, khen/chê, thiện/ác…, rồi tiếp tục sinh ra vui/buồn, yêu/ghét, giàu/nghèo, ân/oán, sướng/khổ, nuối tiếc / hy vọng, bạn/thù, thân/sơ, khinh/trọng …. Những cặp phân biệt ấy gọi là “nhị nguyên đối đãi”, sinh bởi nguyên nhân ban đầu là tâm “duy ngã độc tôn” hay là “phân biệt nhân/ngã”. Đó là căn nguyên của những phiền não và đau khổ và là lý do đức Phật xuất gia để tìm đường cứu khổ cho loài người.
Tóm tắt sự sinh sôi nảy nở những phiền não của con người như sau:
DUY NGÃ ĐỘC TÔN (nhị nguyên)
(phân biệt nhân/ngã)
↓
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
↓
(Tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo...)
↓
Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, THIỆN/ÁC… (nhị nguyên)
↓
Vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, giàu/nghèo, bạn/thù, ân/oán, thân/sơ… (nhị nguyên)
Khi tự cho cái TA là đáng yêu nhất, phải được coi trọng, là đúng nhất, phải được tôn quí hơn là NGƯỜI khác, ta chỉ nhớ tới quyền lợi của ta, niềm hạnh phúc của ta… mà quên đi quyền lợi và hạnh phúc của người khác.
Vì chỉ yêu chính bản thân ta, nên ta chỉ biết vun đắp, và chỉ lo vun đắp cho chính bản thân TA và những gì thuộc về TA (ngã và ngã sở), lo lôi kéo những lợi ích về cho TA, đó là "ích kỷ", làm cái gì cũng vì bản thân TA trước, đó là "vị kỷ", cho "cái TA" là nhất gọi là "tự cao" hay "tự tôn", chỉ yêu mình trên hết, gọi là "tự ái".
Vì tự cho cái TA là đúng nhất tốt nhất, nên ta luôn tôn mình lên và hạ người khác xuống, phô trương cái hay của mình, che dấu hay chối bỏ lỗi của mình, bới móc cái lỗi của người, "Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? (Mt:7.3)" . Hoặc trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức Phật nói mỗi con người có bốn tính chất là:― phô trương mình ― dìm người xuống ― dấu lỗi mình ― phô lỗi người:
─ Thứ nhất: Không ai hỏi về cái tốt của mình mà cứ nói, huống là có hỏi. (khoe cái hay của mình)
─ Thứ hai: Có ai hỏi đến cái tốt của người cũng chỉ nói bập bẹ, nói ngập ngừng, huống là không hỏi. (Không nói tới cái hay của người khác)
─ Thứ ba: Không ai hỏi đến cái xấu của người mà cứ nói, huống là có hỏi. (bới móc cái xấu, lỗi của người)
─ Thứ tư: Có ai hỏi đến cái xấu của mình thì che giấu, huống là không hỏi (che dấu cái lỗi cái xấu của mình).
Đó là tâm "duy ngã độc tôn", nguyên nhân của tham, sân, si, ganh tị, kiêu mạn, và kế tiếp nữa sẽ là tranh giành, xung đột, dối trá, lừa đảo, tội ác và sầu khổ.
◊
◊ ◊
■ Ông Bá Dương, trong các bài về đề tài “Người Trung Quốc Xấu Xí”, có viết một đoạn về cuộc đấu khẩu giữa hai người Trung Quốc đụng xe nhau, trích bản dịch của dịch giả Nguyễn Hồi Thủ:
… Câu đầu tiên dùng để nói với nhau sẽ là kiểu : " Mắt mù à ? " Đối thủ cũng lập tức nhảy cỡn lên phản công : " Ái dà ! Ai mà cố ý ! Đi đụng vào người ta mà lại còn không biết điều ! " Người kia lại gân cổ to tiếng hơn : " Đụng vào người ta mà lại còn già mồm, không biết được giáo dục kiểu gì ? " Đối thủ mồm cũng không kém : " Đụng vào thì đã chết chưa ? Chắc muốn người ta quỳ xuống lậy mình chắc ? Bảo người ta đụng mình à? Thế mình lại không đụng vào người khác đấy ? Chính mình đi đụng vào người ta mà lại còn muốn đổ vấy cho người ! ".
Hai người đều coi mình... đương nhiên đúng và có lý!… thì lỗi phải đương nhiên là… của người kia! Đấy là ảnh hưởng của “duy ngã độc tôn” (2) . Khi đọc, không nín được cười, cứ tưởng ông viết về... mình. Người mình với người Trung Quốc là anh em hàng xóm láng giềng, có một lịch sử gắn bó lâu dài, có thể mình hiền hơn một tí, không gây gỗ ngay, nhưng sẽ đứng dương mắt lạnh lùng nhìn đối thủ, chờ người kia năn nỉ xin lỗi, và xin bồi thường thiệt hại.
■ Nhớ lại một “kỷ niệm”cách đây xấp xỉ 30 năm, hồi còn ở quê nhà, khi xếp hàng mua nhu yếu phẩm (hồi đó là hàng phân phối của nhà nước), mỏi mệt và lơ đễnh, “lỡ” đạp lên chân một bà phía sau. Lập tức bị kéo ngược áo kèm một câu xỉ vả: “Đui à!” ─ Không cần biết lỗi phải, tôi cũng... phang lại một câu trả đũa: “Bộ hết chỗ để chân rồi hả!?”. Rất may không đánh nhau vì sắp tới lượt mua hàng. Từ đó trở đi, tôi với bà ấy nếu có gặp nhau cũng lạnh lùng quay mặt, chẳng một tiếng chào. Ngày nay nghĩ lại, giá mà hồi đó mở miệng xin lỗi nhau một tíếng thì hay biết mấy.
Thực ra lúc đó tôi cũng có… lý do ! Số là trong thời gian hơn 3 năm trước đó, tôi "được" học tập tại một trường “đại học cải tạo” (hồi đó những sĩ quan trong quân đội cũ, đều phải đi “học tập cải tạo”, và trung tâm nơi tôi bị cải tạo được các cán bộ quản giáo mệnh danh là “trường đại học”, vì hầu hết chúng tôi đã qua bậc trung học). Có lần tôi nói với một anh cán bộ quản giáo :─ ”Xin lỗi anh!” ─ Anh ta nhướng mắt cau mày nhìn tôi, có vẻ... lạ vì cách ăn nói này, ra ý hỏi cái gì. ─ Tôi: “Anh có thể cho tôi nghỉ lao động hôm nay không? Tôi bị bệnh.” Sau một hồi hỏi đáp qua lại, anh cán bộ chấp thuận, tôi vui mừng nói cám ơn, nhưng anh lên lớp thêm ngay: “Đó là việc tôi làm, anh không cần... cám ơn hay xin lỗi gì cả!... nhá!”.
Từ lúc nghe “thầy” dạy như thế, tôi tập quên hai từ đó, cho đến khi “tốt nghiệp” được ra trại về với xã hội bên ngoài, tôi đã quên béng hai từ đó, và thấy xã hội bên ngoài dường như cũng vắng bóng hai từ ấy, mỗi khi tiếp xúc hay đụng chạm. Cũng có thể vì đời sống quá khó khăn vất vả mà người ta quên đi chăng? Hay đó là nếp sống mới của một xã hội mới?
■ Một hôm tới chơi một anh bạn, cũng cựu sinh viên đại học cải tạo. Hỏi thăm anh về sức khoẻ, và cuộc sống tình cảm gia đình. ─ Bạn bè cùng cảnh ngộ với nhau nên anh nói lời cảm ơn, và tiếp: “Cũng được khỏe cả anh ạ. Có điều tôi với bả ai làm việc gì cũng…đúng cả, thành ra đôi khi cũng hơi… lủng củng! Giá mà có người… sai thì có lẽ êm ấm hơn!” . Nghe vậy chứ tôi chả hiểu gì cả. Bây giờ thì tôi hiểu lúc đó anh đã nhận ra cái triết lý "duy ngã độc tôn", nhưng anh không sửa tâm anh được; nếu nói theo ba giai đoạn tu tâm là "văn, tư, tu" thì anh mới nghe (văn), và suy nghĩ (tư) rồi đứng tại đó chứ không sửa (tu) được. Ấy thế mới sinh ra cái đoạn kết sau đây.
Sau đó hai năm, gặp lại, anh cho biết hai vợ chồng dã ly dị sau một trận đụng độ. Anh biện minh anh không hề có lỗi gì cả (dĩ nhiên là lỗi về... bà vợ). Rồi một hôm khác gặp vợ anh, chị cũng nói chị chẳng có lỗi gì cả (dĩ nhiên là lỗi tại... ông chồng). Lúc đó tôi mới “ngộ” ra là cả hai, ai cũng… đúng cả, không có ai chịu sai, nên mới đổ vỡ.
Còn mang cái tâm “duy ngã độc tôn” thì cũng còn nhiều chuyện tương tự như thế, chắc ai cũng nghiệm thấy trong cuộc sống hàng ngày.Thành ngữ “chín người mười ý”, cho thấy thường thì ai cũng cho là mình đúng, chẳng ai chịu thua ai .
Tóm lại, nếu tâm “duy ngã độc tôn”, cũng là yêu cái Ta hơn hết, là gốc của phiền não, sầu khổ và cái ác, thì giải pháp loại trừ những cái ác, phiền não và sầu khổ phải là diệt trừ cái tâm “duy ngã độc tôn” ấy. Đó là đừng yêu Ta
hơn Người, mà sửa (tu) thành “yêu Người
như yêu Ta” (như lời đức Jesus dạy: “yêu tha nhân như yêu bản thân mình”, hay ý nghĩa của “tứ vô lượng tâm” Từ Bi Hỷ Xả”
(3) của đức Phật), là “không vị ngã” mà “vị tha”. "Không vị ngã" mà "vị tha" hình như... chính là "vô ngã" ./.
Duy Dức
(Jun – 2008)
-----------------------
Ghi Chú:
(1) Xin trích ra đây hai giải thích khá tương tự:
■ Chê kẻ tự đề cao, cho rằng chỉ có mình là đáng tôn qúy ( tự điển mở vi.wiktionary.org ).
■ Duy ngã độc tôn nghĩa là chỉ có cái Ta của mình là tôn quí hơn hết. (Cao đài tự điển)
… cái bản ngã ấy, sự chấp ngã ấy nó to lớn lắm, vĩ đại lắm, cho nên hễ có ai khác đụng chạm đến cái bản ngã này thì nó vùng lên phản ứng quyết liệt, cho rằng chỉ có nó là quan trọng nhứt, đáng tôn kính nhất .
(2) “Duy ngã độc tôn” cũng vốn là một truyền thống của người Trung Quốc theo nhận định của giáo sư Tu Weiming, tại website sau (download):
[DOC] www.hcmussh.edu.vn/ussh/ImportFile/Magazine/Journal130906025532.doc
Xin trích một đoạn : “… Vấn đề này Phí Chí Thanh cũng đã bàn đến rồi . có quan điểm như sau: do Trung Quốc là một nước lớn có cái gọi là “lễ nghi thiên triều “ , có ý thức duy ngã độc tôn , xem những ngoại nhân đều là những dân tộc phải đến triều cống , vì họ có những điều cần phải cầu xin chúng ta , còn chúng ta thì chẳng cần cầu xin gì ở họ . Một khi họ đã đến Trung Quốc thì chúng ta phải dùng một loạt những chế độ lễ nghi để cải biến họ thành những phần tử có nhiệm vụ kính bái thiên triều . Từ đời đường trở đi tình hình đều như thế cả , cho đến đời Minh thì phát triển thành một loại ngông cuồng tự đại tương đối rõ ràng , loại ngông cuồng tự đại này khiến cho Trung Quốc khó lòng đối phó với sự thách đố của văn hóa Tây Phương một cách thực tế , một cách rốt ráo được . Cái gọi là “ Nam Man ,Đông Di, Tây Nhung ,, Bắc Địch “,tất cả đều không đáng nhắc đến , chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh .Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt , thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc …”
(3) Trong giáo lý Phật giáo, “tứ vô lượng tâm” tức “Từ-Bi-Hỷ-Xả”:
-- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh
-- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ.
-- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc).
-- Xả : Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị ...; Cũng chính là buông bỏ cái TA, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).
Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "thương người", "vì người" hay “vị tha”./.
Duy Đức
(June-2008)
Home Top
DUY NGÃ ĐỘC TÔN (nhị nguyên)
(phân biệt nhân/ngã)
↓
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
↓
(Tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo...)
↓
Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, THIỆN/ÁC… (nhị nguyên)
↓
Vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, giàu/nghèo, bạn/thù, ân/oán, thân/sơ… (nhị nguyên)
DUY NGÃ ĐỘC TÔN (nhị nguyên)
(phân biệt nhân/ngã)
↓
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
↓
(Tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo...)
↓
Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, THIỆN/ÁC… (nhị nguyên)
↓
Vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, giàu/nghèo, bạn/thù, ân/oán, thân/sơ… (nhị nguyên)