SI, VÔ MINH và TRÍ TUỆ.

Nói tới Phật giáo chẳng ai lại không nghe thấy ba chữ "tham, sân, si".

Tham lam và sân hận xuất phát từ nội tâm của con người, nên thường được nói là “tâm tham” với “tâm sân”. Nhưng riêng chữ SI có khi được hiểu là “tâm si mê” (trong nội tâm), lại cũng có khi được giải thích với nghĩa “ngu si” (trí óc ngu si), và chữ ngu si cũng được hiểu gần, hay cùng nghĩa với từ “vô minh”. Thử tìm xem thực nghĩa chữ “si” và có sự khác biệt với “vô minh” ?

1/ SI

Trích kinh Tham Sân Si : "Tại Tịnh xá ở Savatthi, lúc bấy giờ, vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế tôn:
-- Bạch Thế tôn, có bao nhiêu pháp, khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau, và bất an cho người ấy?
-- Thưa Đại vương, có ba pháp khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau, và bất an cho người ấy. Những gì là ba? Tham, Sân, Si, thưa Đại vương, khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau và bất an cho người ấy. Ba pháp nầy, thưa Đại vương, khi khởi lên trong nội tâm một người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau và bất an cho người ấy:
Tham sân si là tâm ác của người.
Chúng hại người như bông tre (hại tre)."
(Ht Thích Thiện Châu dịch)

Theo như đoạn kinh này thì tham, sân, si đều khởi lên từ nội tâm của con người, như vậy chữ SI không mang ý nghĩa trí óc ngu si, mà mang ý nghĩa của sự si mê (thuộc nội tâm con người, ví dụ như nghĩa si trong chữ si tình), mê đắm, mê muội, mê say, đam mê không lành mạnh ..., có thể diễn tả như là hành động của một con người tự cho phép mình tận hưởng những sự khoái lạc, sở thích riêng tư, nuông chiều theo sự đòi hỏi của thân xác mình một cách dễ dãi, không cần biết tới, hay xem nhẹ, hậu quả xấu có thể xảy ra. Hậu quả xấu đó không thấy được vì bị che mờ bởi sự hấp dẫn của khoái lạc, bởi lòng ham muốn thỏa mãn của bản thân mình. Mê đánh bạc, say sưa rượu chè, hút sách, si mê sắc dục, ham ăn uống... đều có tiềm ẩn hậu quả xấu, mối muộn phiền đau khổ, có khi dẫn đến tội ác,... mang nghĩa chữ “si”. Người vướng vào sự si mê nào đó (ví dụ rượu chè, cờ bạc, dục tình...) không hẳn là người có đầu óc ngu si, có khi họ cũng biết, cũng cảm thấy có sự nguy hại xấu xa ẩn tàng, nhưng họ không cưỡng lại được sự ham muốn thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác mình.

Trong ngũ giới của Phật Giáo, hai điều cấm “không tà dâm” và “không uống rượu” (ngày nay ghi thêm không dùng các chất ma túy) chính là để ngăn chặn tâm si. Như vậy “si” chính là “tâm si mê” chứ không phải là “trí óc ngu si”. Để nói tới ý “ngu si”, hay tăm tối, không sáng , thiếu hiểu biết... đưa tới sự khổ, ta hãy tìm hiểu chữ “vô minh”.

2/ VÔ MINH

Trong Kinh Tương Ưng Bộ định nghĩa “vô minh” như sau: Này các tỳ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết khổ tập, không rõ biết khổ diệt, không rõ biết con đường đưa đến khổ diệt. Này các tỳ-kheo, đấy gọi là vô minh.” (Kinh Tương Ưng Bộ V – Vô Minh).

Một người “không biết rõ Khổ, không biết rõ Khổ tập, không biết rõ Khổ diệt, không biết rõ con đường đi đến Khổ diệt” chính là không hiều rành rọt về Tứ Diệu Đế, đó chính là người vô minh, tăm tối, ngu si, không sáng suốt.

Trong Tứ Diệu Đế, nỗi khổ và nguyên nhân khổ được tóm tắt bằng câu "năm thủ uẩn là khổ", nghĩa là ôm giữ lòng vị kỷ (ích kỷ, vị ngã, chấp ngã) là khổ. Như vậy một người không hiểu rằng chính cách sống vị kỷ sẽ đem lại đau khổ cho mình (và cho người khác), là người vô minh  (Khổ và Tứ Diệu Đế).

Diễn giải trong Thập Nhị Nhân Duyên, vô minh là cái nhân đầu tiên của ưu sầu khổ não; nói cách khác, cách sống vị kỷ, ích kỷ, chấp ngã, vị ngã, cũng là mang tâm phân biệt... chính là cái nhân của khổ não.

3/ MINH và TRÍ TUỆ

Ngược lại với vô minh là “minh”. Cũng trong bản kinh Tương Ưng ấy, "minh" được định nghĩa như sau: “Này các tỳ-kheo, chính là rõ biết khổ, rõ biết khổ tập, rõ biết khổ diệt, rõ biết con đường đưa đến khổ diệt. Này các tỳ-kheo, đấy gọi là minh.” Biết rõ "khổ, tập, diệt, đạo" là biết rõ tứ diệu đế, vậy người hiểu rõ tứ diệu đế chính là người sáng suốt, là "minh", và cũng là người có chánh kiến, vì rằng: "... Này các vị tỳ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Đó là sự thông hiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu về con đường diệt khổ." (Tương Ưng Bộ V)

Cách nói khác của "minh" là "trí tuệ", vì "trí tuệ" có cùng định nghĩa như "minh": "Như thế nào được gọi là trí tuệ? Vì có tuệ tri, vì có tuệ tri, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là khổ, có tuệ tri: đây là khổ tập, có tuệ tri: đây là khổ diệt, cóTuệ tri: đây là con đường đi đến khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri nên được gọi là trí tuệ" (Trung Bộ, I-43). Như vậy, người hiểu rõ về Tứ Diệu Đế chính là người có trí tuệ, hay sáng suốt (minh).

Thông hiểu là một chuyện, thực hành theo "con đường đi đến diệt khổ" (đạo đế) ấy lại là chuyện khác, đó là "tu" sửa cái tâm, giai đoạn cuối của ba giai đoạn "văn, tư, tu",  thường khó khăn hơn vì phải chiến đấu với chính mình để loại bỏ lòng tham sân si. Và đức Phật nói tận diệt được tham sân si trong nội tâm, đó chính là Niết Bàn. Tham sân si lại do lòng vị kỷ sinh ra, như vậy loại bỏ được lòng vị kỷ là loại bỏ được tham sân si là... Niết Bàn ./. 

Các bài viết liên quan:
1. KHỔ !
2. KHỔ và Vô Thường
3. KHỔ, Nghiệp và Tham Sân Si
4. KHỔ và Ái Dục
5. KHỔ và Duyên Khởi.
6. KHỔ và Tứ Diệu Đế.
7. Đau và... KHỔ

Duy Đức
June/2011

 




Website powered & layout © by TipTopWebsite.com