TÌNH YÊU trong PHẬT GIÁO.
    -----

    Trong Phật giáo, ta thường nghe tới chữ “ái” , như tham ái, ái dục... và thường cho là nguyên nhân của đau khổ, vì tham ái, ái dục đều mang nghĩa tham muốn chiếm đoạt và thủ giữ mãi cho riêng mình những gì mình yêu thích. Chữ ái này mang tính cá nhân vị kỷ. Với lý vô thường, ta không thể giữ mãi những gì ta yêu thích, vì, có được thì có mất, có sinh thì có diệt... nên nếu cứ chấp chặt cho riêng mình thì sẽ có đau khổ vì “mất” hay “diệt”. Do đó “ái” được kể là căn nguyên của đau khổ (Khổ và Ái Dục)

    Ý nghĩa “tình yêu” rộng lớn là “yêu người như yêu bản thân mình” trong Phật giáo được dùng bằng chữ “từ bi”, hay đầy đủ hơn là “từ bi hỷ xả”.

    -- Từ : lòng thương người, và có thể nói rộng ra là thương chúng sinh
    -- Bi : lòng đau xót với nỗi đau của người khác, của chúng sinh, khiến ta có ý muốn và hành động giúp đỡ, làm bớt nỗi đau của họ (mang cùng ý nghĩa "khóc cùng kẻ khóc" trong Ki-tô giáo)
    -- Hỷ : lòng vui với sự thành đạt của người khác (mang cùng ý nghĩa "vui cùng người vui" trong kinh thánh), không ghen tị mà còn vui khi thấy người khác thành đạt, hạnh phúc.
    -- Xả: Buông bỏ những thứ ta muốn lôi kéo hay chiếm giữ cho TA, phát sinh bởi lòng tham, sân, si, kiêu mạn, ganh tị...; Cũng chính là buông bỏ cái TA ích kỷ, buông bỏ oán hận (giữ lòng tha thứ).

    Hợp lại của bốn từ đều mang một ý nghĩa "vì người" hay “vị tha”. Nội dung cũng giống như hai chữ Tình Yêu trong Ki-tô giáo. Sống vị tha không vị kỷ là "thương người như thể thương thân", là biết đau cùng cái đau của người, biết vui cùng cái vui của người. Đó chính là tâm không phân biệt

    Trong Kinh Từ Bi, đức Phật khuyên dạy “hãy yêu chúng sinh như người mẹ yêu đứa con độc nhất của mình vậy” [1] . Một bà từ mẫu luôn thương yêu bảo bọc con, nhưng nếu đó lại là đứa con duy nhất thì tình yêu của bà lại càng mãnh liệt hơn, bà có thể hi sinh cả tánh mạng mình cho hạnh phúc của nó. Lấy chuẩn mực tình yêu ấy để yêu người (hay mở rộng ra cả chúng sinh) thì đúng là “yêu người như yêu chính bản thân mình” vậy. Đó chính là tâm không phân biệt Ta/Người, yêu người như yêu ta không phân biệt, hoàn toàn bình đẳng.

    Khi yêu người như yêu bản thân mình (ví như bà mẹ yêu đứa con duy nhất của mình như yêu chính bản thân bà), thì không còn tham lam, sân giận, vì chẳng ai lại tham hay giận ghét với chính mình cả, và khi đã hết lòng với “người mình yêu” thì cũng từ bỏ những si mê thoả mãn cho riêng mình. Như vậy “tình yêu” sẽ dứt bỏ tham sân si, và “đoạn tận tham, sân, si, đấy chính là Niết bàn” (Khổ và Tham Sân Si), và Niết bàn chính là nơi mà mọi người yêu thương nhau như yêu chính bản thân mình, không phân biệt Ta/Người.

    Niết bàn cũng chính là đạo quả "Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác": Trong kinh Kim Cang, đức Phật giải nghĩa đạo quả này (cũng là một pháp: phương pháp của Phật) là "pháp này bình đẳng, không cao không thấp. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, mà tu hết thảy các pháp lành, tức thành đạo quả Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác".

    - "Pháp này bình đẳng": đây là phương pháp (Phật pháp) tìm tới sự bình đẳng tuyệt đối (Chánh đẳng) không phân biệt giữa Ta và Người, giữa Ta và chúng sinh, giữa Ta và thọ giả [2] (người cho và người nhận). Đó chính là tâm không phân biệt.

    - "không cao không thấp (Vô thượng): là tâm không còn phân biệt.

    - "Chánh giác": đó chính là đạt tới sự giác ngộ chân chánh vậy

    - Trừ bỏ tâm phân biệt Ngã/ Nhân, Ngã/chúng sinh, Ngã/thọ giả bằng cách tu các pháp lành như lục hạnh ba-la-mật, bát chánh đạo... sẽ thành được đạo quả là Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác.

    Trừ bỏ tâm phân biệt là bỏ cái tâm yêu TA hơn NGƯỜI, để trở thành yêu NGƯỜI như thể yêu chính bản thân TA vậy, tức là tìm đến tình yêu thương đồng loạiĐấy là cái đích đến.

    *
    *      *

     

    Sau đây trích lại một số lời nói về tình yêu thương, hay từ bi, hay vị tha... của đức Đạt Lai Lạt Ma, người được coi là có tiếng nói uy tín nhất về Phật giáo hiện đại, :

    Vị tha là cội nguồn hạnh phúc nhất. Không có nghi ngờ gì về điều này.” (khi được Oprad phỏng vấn, với câu hỏi “những gì ngài biết chắc?”)

    Khi được tạp chí Le Point phỏng vấn, đặt câu hỏi “... Thiên Chúa giáo và Phật giáo cùng chia sẻ một số giá trị nào đó, có đúng thế không?”, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Hoàn toàn đúng như thế: cùng nêu cao tình yêu thương đồng loại, chủ trương lòng từ bi, sự tha thứ và giúp con người vượt lên các thói hư tật xấu...

    Tất cả các tôn giáo lớn đều mang mục đích giống nhau. Tuy nhiên phải nói Phật giáo có đôi chút khác biệt với Thiên Chúa giáo: chúng tôi tin có vô lượng kiếp - và quý vị chỉ tin có một kiếp. Quý vị tin có một Vị Sáng Tạo - và chúng tôi thì không. Quý vị tin có sự tự do ý chí (libre arbitre - free will) - và chúng tôi thì nhất quyết đấy là do nơi nghiệp...” [3]

    Giáo lý của Đức Phật có thể tóm tắt bằng hai câu : "Hãy giúp đỡ người khác" và "Nếu không giúp đỡ được người khác thì ít ra cũng đừng làm gì có thể gây ra nguy hại cho họ". Nguyên tắc giáo lý đó phải bám rễ thật sâu vào mảnh đất của yêu thương và lòng từ bi.

    Tôi từng đề nghị rằng, tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, hạnh phúc chân thật có đặc tánh là an bình, và an bình chắc chắc chỉ đạt được khi hành động của ta có động cơ là sự quan tâm đến tha nhân; và điều đó sẽ nối tiếp bằng giới luật luân lý và giải pháp trực tiếp cho cảm xúc phiền nhiễu. Tôi cũng đề nghị rằng, trong khát vọng hạnh phúc, chúng ta tìm sự xa lánh đau khổ một cách tự nhiên và thích đáng. Giờ ta thử quán xét phẩm chất, hoặc trạng thái, khi ta ước vọng mạnh mẽ được giải thoát khỏi đau khổ đang nằm ngay trong đời sống của ta. (Luân Lý và Đau Khổ)

    Chúng ta chính thức trở thành một Phật tử khi ta quyết định quy y Tam bảo và phát tâm Bồ-đề, được hiểu như là phát khởi lòng từ bi, tâm vị tha, hay trái tim cao đẹp. Tam bảo của Phật giáo bao gồm đức Phật, Pháp – tức là giáo pháp của Phật, và Tăng-già, tức là cộng đồng những người tu tập. Như vậy, rõ ràng ý tưởng giúp đỡ người khác là cốt lõi của cả việc quy y và phát tâm Bồ-đề. Việc thực hành phát tâm Bồ-đề rõ ràng kéo theo sự tự nguyện có các hành động với mục đích chủ yếu nhằm giúp đỡ người khác; trong khi đó, việc thực hành quy y đặt một nền tảng dẫn dắt người tu tập theo một nếp sống đạo đức và giới hạnh, tránh mọi hành động có hại cho người khác và tôn trọng luật nghiệp báo.

    Người Tây Tạng cho rằng có nhiều cơn bệnh có thể được chữa lành bằng tình thương và lòng bi mẫn. Những phẩm chất này là nguồn gốc tối hậu cho hạnh phúc con người, và sự cần thiết của chúng nằm ngay ở gốc của sự hiện hữu của con người. Bất hạnh thay, tình thương và lòng bi mẫn, từ lâu, đã bị lãng quên trong nhiều trường hợp giao tế xã hội. Thường được coi như là chỉ giới hạn trong phạm vi đời sống gia đình, sự thực hiện lòng từ bi trong phạm vi đời sống công cộng thường được coi là thiếu thực tế, có khi còn bị coi là ấu trĩ nữa. Đây là điều bi thảm. Theo tôi, thực hiện lòng từ bi không phải là một hội chứng của chủ nghĩa lý tưởng không tưởng mà thực ra là một phương thức hiệu quả nhứt để giúp ích người khác cũng như cho chính mình. Chúng ta - như là một quốc gia, một nhóm hay một cá nhân - càng tùy thuộc vào người khác thì chính chúng ta lại càng muốn bảo đảm sự an toàn, tốt đẹp của người khác.  (Giá Trị của Lòng Vị Tha)

    Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của con người là tình thương. Thiếu tình thương, con người không thể có hạnh phúc chân thật. Nếu chúng ta muốn có một đời sống, một gia đình, một người bạn hàng xóm và một quốc gia hạnh phúc hơn thì bí quyết thành công hoàn toàn nằm ở trong tâm con người. (Con Đường Dẫn Đến Chân Hạnh Phúc)

    Cho nên sự thể hiện tình thương là điều rất quan trọng và quý báu trong xã hội con người. Nơi đây, chúng ta chẳng cần triết lý cao siêu, tu viện, chùa chiền, ảnh tượng để thờ hay các thần linh v.v. mà chúng ta chỉ cần có tình thương. Ðơn giản, chúng ta cố gắng trở thành một con người tốt, nghĩa là con người có tấm lòng vị tha. Ðừng bao giờ sống ích kỷ mà luôn luôn quan tâm, tìm cách giúp đỡ cho mọi người, đó mới thực là tôn giáo chân chính, có lợi ích cho nhân quần xã hội. [4] (Tình Thương là Tôn Giáo Bình Dị của Nhân Loại)./.

     

    1. Tình yêu trong Kitô giáo
    2.
    Tình yêu trong Phật giáo

    3. Tình yêu trong đạo Khổng.
    4.  Tình yêu trong thuyết Kiêm Ái của Mặc Tử.
    5. Tình yêu trong chủ thuyết cộng sản.

     

    Duy Đức
    Aug – 2011.

     

    GHI CHÚ:

    [1] “Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.” (kinh Từ Bi, Thích Nhất Hạnh dịch)

    [2] Thọ giả: theo bản dịch ra hán văn của ngài Chân Đế chú giải "chữ thọ là chịu" (theo bài viết "Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật " của hoà thượng Thích Trí Quang, đoạn 7, mục 3 "ngã chấp trong kinh Kim Cang"), do đó chữ "thọ" nói trên là "chịu" sự bố thí, hay "nhận" sự bố thí, và "thọ giả" là người chịu hay nhận bố thí. Trong Kinh Kim Cương, Phật nói về bố thí pháp dành cho các vị Bồ tát.

    [3] (với ý riêng của Duy Đức): Mục đích giống nhau mới là quan trọng, còn phương cách (để tiến tới mục đích chung đó) có khác nhau là chuyện thường tình, có khi lại tốt vì có tính cách đa dạng, phong phú. Điều quan trọng là đừng vì phương cách khác nhau mà nghi kỵ, bất hòa, xung đột giữa các tôn giáo, ngoại trừ những người đi sai mục đích, không lấy “tình yêu thương” đồng loại làm cứu cánh tối hậu mà lại lấy tôn giáo mình làm cứu cánh. “Tôn giáo chỉ là phương tiện đi về tình người. Tình thương mới là cứu cánh. "Tôn giáo là cứu cánh sẽ đưa đến chiến tranh tôn giáo. Tôn giáo phải đưa con người đến lòng độ lượng bao dung” (lm Nguyễn Tầm Thường) .

    [4] (với ý riêng của Duy Đức): “Ðơn giản, chúng ta cố gắng trở thành một con người tốt, nghĩa là con người có tấm lòng vị tha”, thực tế chẳng đơn giản chút nào, vì con người luôn hướng về vị kỷ hơn là vị tha, vì thế mới có tôn giáo để hướng dẫn, có khi thúc đẩy người ta đi theo con đường vị tha ấy, kẻo lạc. "Triết lý cao siêu" là những bài học, "tu viện, chùa chiền, ảnh tượng" … là trường học, thực ra cũng phải cần, ít nhất là ở giai đoạn... trước khi con người đã thuộc bài và đạt tới “tình yêu thuơng” lẫn nhau bằng hành động vị tha chân thực, tức là đạt tới mục đích (ngày ấy còn xa lắm, nhưng đây là con đường). Chỉ lúc ấy giáo lý cao siêu, chùa chiền tu viện, ảnh tượng... mới được coi như là “chiếc bè đưa người qua sông”, hay "ngón tay chỉ mặt trăng", nghĩa là có thể coi đó là phương tiện, tới đích rồi mới bỏ được phương tiện, qua tới bờ bên kia (bờ giác) rồi thì mới bỏ được cái bè.

    Liên hệ một chút qua tân ước Kitô giáo: "Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, đức cậy, đức ái (tình yêu thương); nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là đức ái." (1 Cr 13:13). Đức tin, đức cậy có thể coi như phương tiện, nhưng cứu cánh mới là điều quan trọng hơn cả, đó là đức ái hay “Tình yêu” là cái hoàn hảo (chân lý). Và:

    Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.” (1Cr 13:10-11)



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com