TÌNH YÊU trong KHỔNG GIÁO
    -----

     


    Sách Luận Ngữ (LN) ghi, khi ông Phàn Trì hỏi ý nghĩa chữ NHÂN
    ( ) , đức Khổng tử đáp: NHÂN là “yêu người” (ái nhân: [1] (LN 12.21) .

    Chữ NHÂN 仁 , gồm b “nhân”  kèm chữ “nhị” 二 , tượng trưng hai người, với ý nghĩa là khi có hai người trở lên, sống chung với nhau trong một cộng đồng (cộng đồng nhỏ là gia đình, lớn hơn là xóm làng, xã hội, quốc gia, rộng hơn nữa là thiên hạ, thế giới) thì phải đối xử với nhau bằng tình yêu thương lẫn nhau (ái nhân).

    Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, có thể đức Khổng Tử đã đặt ra từ NHÂN. Theo ông, tuy chưa có chứng cứ gì để tin hẳn điều đó, nhưng dù sao thì cũng từ đức Khổng Tử trở đi, chữ NHÂN mới từ trường học của ông mà được phổ biến (theo sách Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê). Nhưng cùng thời với Khổng Tử, Lão Tử cũng đã dùng tới chữ NHÂN, nên chỉ có thể nói là chữ NHÂN từ Khổng Tử trở đi mới được nhấn mạnh và cần phổ biến như là nền tảng đạo đức con người.


    *
    *    *

    NHÂN là “yêu người”, nhưng thể hiện yêu người như thế nào mới là đúng nghĩa NHÂN ?

    1/- Khi ông Trọng Cung hỏi về chữ NHÂN, đức Khổng Tử đáp rằng:
    “... kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân...” (LN 12.2): ý nghĩa là suy lòng ta ra lòng người, "điều gì mình không muốn, (thì suy từ lòng mình ra sẽ hiểu được người khác cũng không muốn) đừng làm cho người".

    2/- Đáp câu hỏi của ông Tử Cống về đức NHÂN, đức Khổng tử đáp:
    “Phù NHÂN giả, kỷ dục lập nhi lập nhân; kỷ dục đạt nhi đạt nhân; năng cận thủ thí; khả vị NHÂN chi phương giã dĩ” (LN 6.28) : Người NHÂN, hễ mình muốn lập dựng cho mình điều gì, thì cũng mong muốn cho người khác được lập dựng như vậy (kỷ dục lập nhi lập nhân), muốn mình thành đạt thì cũng mong người khác được thành đạt như vậy (kỷ dục đạt nhi đạt nhân), đây cũng là suy lòng ta ra lòng người (năng cận thủ thí), muốn xử với mình thế nào thì cũng xử với người khác như thế. Đó là phương pháp phải thi hành để thành người NHÂN. [2]

    Trong hai câu giải đáp trên, ta thấy rằng, theo đức Khổng Tử người NHÂN là người biết “suy lòng ta ra lòng người”, nghĩa là “tất cả những gì ta muốn người ta làm cho mình, thì chính mình cũng hãy làm cho người ta”, hoặc “những gì ta không muốn người khác làm cho mình thì cũng đừng làm điều đó cho người”, cũng có nghĩa là nếu ta yêu ta thế nào thì cũng yêu người như thế, yêu người như yêu mình (khi yêu mình thì muốn người khác dành những điều tốt đẹp cho mình, không muốn các điều xấu cho mình, thì suy ra người khác cũng vậy... có nghĩa là cũng yêu người như thế). Đó chính là định nghĩa chữ NHÂN.

    Như vậy NHÂN là "yêu người" và mức tột cùng là  “yêu người như yêu chính bản thân mình" [3]. Thực hành đức NHÂN như vậy là khó lắm, và chính đức Khổng Tử cũng phải công nhận, khi nói về chính bản thân mình, trong sách Trung Dung (TD):

    "Đạo của người quân tử có bốn điều, Khâu tôi chưa làm được một:
    - Điều gì mình yêu cầu ở con, thì mình đem điều đó thờ bố. Điều này tôi chưa làm được.
    - Điều gì mình yêu cầu ở người thuộc hạ, thì mình đem điều đó mà thờ vua. Điều này tôi chưa làm được.
    - Điều gì mình yêu cầu ở em, thì đem điều đó mà thờ anh. Điều này tôi chưa làm được.
    - Điều gì mình yêu cầu ở ban bè, thì đem điều dó thực hiện trước với bạn bè mình. Điều này tôi chưa làm được...."
    (TD. 13).

    Những điều đức Không Tử nói trên đều nằm trong khuôn vàng thước ngọc “tất cả những gì mình muốn được người khác làm cho mình, thì chính mình cũng hãy làm cho người ta”. Ở đây mới chỉ hạn hẹp trong bước đầu tiên là đối với những người gần gũi nhất là cha mẹ, anh em, bạn hữu, vua, đã là khó rồi huống chi mở rộng ra tới tất cả mọi người, không phân biệt.

    Thế nên làm cho bất kỳ người nào khác những điều mà bản thân mình muốn người ta làm cho mình quả là khó. Tuy khó nhưng mà đó là cái đích đến của con người trong quá trình đi tìm sự bình an cho cả thiên hạ (bình thiên hạ).

    Nhưng có thực NHÂN, hay yêu người, là đích đến của đạo Khổng không ? Để tìm hiểu điều này, xin tìm nghĩa của hai chữ “trung thứ”, được nói trong cả hai sách Trung Dung và Luận Ngữ:

    Trung thứ vi Đạo bất viễn. Thi chư kỷ nhi bất nguyện, diệc vật thi ư nhân” (TD. 13) [4] : “Trung thứ” chẳng cách xa Đạo (Đạo Trung Dung); “trung thứ” chính là suy lòng ta ra lòng người, "điều gì thực hiện cho bản thân mình mà mình không muốn, chớ đem việc ấy làm cho người". So sánh nghĩa này với nghĩa trong đoạn 1/ và 2/ nêu phía trên, thì đức “trung thứ” cũng chính là đức NHÂN.

    Vậy nếu nói "trung thứ" chẳng xa Đạo, tức cận kề bên Đạo, thì NHÂN cũng chính là cận kề bên Đạo rồi. Chữ Đạo đây là Đạo Trung Dung là cái đích vô cùng cao viễn của đạo Khổng, ít ai đạt tới được, như lời đức Khổng Tử nói: “Trung Dung là cái đức hạnh tốt cực điểm. Nhưng tiếc rằng lâu nay ít người đạt tới mức ấy” (LN 6.27) [5]. Đạo Trung Dung là đích đến, nhưng vì ít ai đạt tới mức ấy nên có thể coi đức NHÂN là đích đến vậy, vì đức NHÂN cận kề ngay bên Đạo. 

    Cũng trong sách Luận Ngữ, có ghi lời ông Tăng Tử rằng: “Đạo của Thầy chỉ gom vào hai cái đức Trung và Thứ mà thôi” (LN 4.15), như vậy cũng có thể hiểu là Đạo của đức Khổng Tử chính là đạo NHÂN vậy, vì NHÂN cũng là Trung Thứ (và tột cùng của NHÂN là Trung Dung, cái đích vô cùng cao rộng dường như ít ai tới mức ấy).

    Lại cũng trong sách Luận Ngữ, khi ông Tử Cống hỏi: " có ngôn từ nào có thể suốt đời làm theo được chăng?", đức Khổng Tử đáp rằng: "Hẳn là chữ "thứ" chớ gì ? Điều gì mình không muốn, thì đừng làm cho người khác. (Tử viết: "Kỳ thứ hồ? Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân") (LN 15.23); nếu so sánh với đoạn 1/ nêu phía trên, thì một lần nữa ta thấy NHÂN chính là đức "thứ" hay cả "trung thứ" [4]

    *
    *      *

    Tóm lại: NHÂN là “yêu người như yêu bản thân mình”, là biết suy lòng ta ra lòng người, “những gì ta muốn người ta làm cho mình, thì chính mình cũng hãy làm cho người ta”, hoặc “những gì ta không muốn người khác làm cho mình thì cũng đừng làm điều đó cho người” [3], điều đó cũng có nghĩa là ta yêu Ta thế nào thì cũng yêu Người như thế, cũng chính là tâm không phân biệt Ta/Người. Đó chính là TÌNH YÊU trong Đạo của đức Khổng; nếu ai cũng học được TÌNH YÊU ấy thì thiên hạ thái bình. Và thánh nhân hay vị hoàng đế nào... mà hướng dẫn được mọi người trong thiên hạ đạt tới TÌNH YÊU hay chữ NHÂN ấy, thì mọi người sẽ yêu thương nhau như yêu bản thân mình, và thiên hạ sẽ thái bình, thì đó chính là người "bình thiên hạ" vậy./.

     

    1. Tình yêu trong Kitô giáo
    2.
    Tình yêu trong Phật giáo

    3. Tình yêu trong đạo Khổng.
    4. Tình yêu trong thuyết Kiêm Ái của Mặc Tử.
    5. Tình yêu trong chủ thuyết cộng sản.

     

    Duy Đức
    Aug – 2011

    GHI CHÚ:

    [1] Trong bài này chữ "NHÂN" dùng cho , còn chữ “nhân” hay “Nhân” viết thường dùng cho 人 .

    [2] Chỉ trong sách Luận Ngữ thôi, đã đề cập đức NHÂN nhiều lần với nhiều khía cạnh có vẻ khác nhau nhưng thực ra cùng hướng về một đích. Nhưng NHÂN với nghĩa “yêu người như yêu bản thân mình” mới là định nghĩa tổng quát (là cái đích), còn những giải thích khác về NHÂN đều mang nghĩa là những yếu tố mà NHÂN bao gồm, hay cách hành động cần phải làm để đạt tới đức NHÂN. Ví dụ: "nguời NHÂN tất dũng cảm, nhưng người dũng cảm chưa hẳn đã có đức NHÂN" (NHÂN giả tất hữu dũng, dũng giả bất tất hữu NHÂN) (LN 14:4); các ví dụ khác:

    Đức Khổng Tử nói: “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ NHÂN” ( kẻ ăn nói dối trá mà bề ngoài chau chuốt, thì kém lòng NHÂN). Cũng có thể hiểu người NHÂN phải giữ lòng ngay thẳng không dối trá. Ta thấy, “ngay thẳng, không dối trá” là một yếu tố của NHÂN. Nhưng nếu chỉ có “không dối trá” thì cũng chưa đủ là NHÂN, mà còn phải đủ các đức tính khác. Tất cả cá đức tính ấy đều phát xuất từ một đặc tính duy nhất là lòng “yêu người như thể yêu chính bản thân mình”, đã yêu mọi người như vậy thì dĩ nhiên là không dối trá với ai cả. Như vậy chỉ cần một đức tính bao quát là “yêu người” như trên thì đó là người NHÂN của đạo Khổng.

    Trích các ví dụ khác:

    Ông Nhan Uyên hỏi về NHÂN, đức Khổng Tử đáp: khắc kỷ, phục lễ là NHÂN (LN 12.1) (tức là chế thắng lòng tư dục mà trở về lễ, là NHÂN). Nhưng chỉ có lễ thì chưa phải là NHÂN vì : “Người không có đức NHÂN thì lễ mà làm gì ?” (LN 3.3).

    Khi ông Phàn Trì hỏi về NHÂN, Khổng Tử giảng giải rằng: Cư xử cung, chấp sự kính, dữ nhân trung (LN 13.19) : cư xử với người thì khiêm cung, làm việc thì nghiêm trang cẩn thận, đối với mọi người giữ mực trung, bình đẳng, không thiên lệch. Ai cũng muốn người khác đối với mình như vậy, thì bản thân mình cũng làm như thế đối với người.

    Cũng ông Phàn Trì hỏi về đức NHÂN, ngài đáp: “NHÂN giả tiên nan, hậu nhi hoạch, khả vị NHÂN hỹ”. Thường thì vì lòng vị kỷ, ai cũng muốn việc dễ mà đẩy việc khó cho người, ai cũng muốn giành cái lợi trước cho mình mà đẩy cái không lợi cho người. Người biết suy lòng ta ra lòng người “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, thì , trước là nhận việc khó cho mình (nhường việc dễ cho người), và sau là nhận cái lợi cho mình sau người khác. Như vậy là yêu người như yêu bản thân mình, là người NHÂN.

    Ông Tử Trương hỏi về NHÂN, đức Khổng Tử đáp “Cung, khoan, tín, mẫn huệ” (nghiêm trang tề chỉnh với người, giữ lòng độ lượng với người, giữ chữ tín với người, cần mẫn trong công việc vì người, rộng lòng từ huệ với người). Ai cũng mong muốn người khác đối với mình như thế, thì suy lòng ta ra lòng người, ta cũng làm như vậy đối với người.

    – ….........

    Tổng quát, NHÂN bao gồm “nghĩa, lễ, trí, tín”, khắc kỷ (chế ngự tư dục), “cung, khoan, tín, mẫn, huệ”, trực (ngay thẳng không dối trá), trí tuệ sáng suốt, dũng cảm, hiếu đễ... Muốn học đức NHÂN thì tập các điều trên, và người đạt đức NHÂN tức là “yêu người như yêu bản thân mình” là người đã bao gồm đầy đủ các phẩm chất trên... Cũng giống như thánh Phaolô bên Kitô giáo, nói “yêu người” là đã bao gồm đầy đủ các điều răn và chu toàn lề luật: “Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy”. (Rm 13:8-10).

    Hoặc những câu sau đây nói về các đặc tính của tình yêu: "Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả" (1Cr 13:4-7). Muốn biết yêu người thì tập từng đức tính ấy, và người đạt tới tình yêu hoàn hảo thì bao gồm tất cả các đức tính ấy.

     

    [3] Mức tột cùng ấy có lẽ chính là đạo Trung Dung. "Trung Dung là cái đức hạnh tốt cực điểm; nhưng tiếc rằng lâu nay ít người đạt tới mức ấy" (LN 6.27), vì rằng xưa nay người ta quan niệm yêu mình và người thân hơn, là hợp với lẽ thường, chứ ít ai muốn học "yêu người như yêu bản thân mình" cả.

    Có thể so sánh với Kinh Thánh Tân ước “hãy yêu tha nhân như chính bản thân mình” (Mt 22:39),...và “khuôn vàng thước ngọc” để biết cách xử sự để học yêu người: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó.” (Mt 7:12)

    [4] Trung thứ  :

    Trung : gồm chữ “Trung” (của Trung Dung) và chữ “Tâm” ghép lại.

    Chữ Trung trong Đạo Trung Dung được định nghĩa "bất thiên chi vị Trung" : không thiên bên này không lệch bên kia, giữ mức giữa  (Ví dụ không thiên lệch chỉ vì TA, cũng không nghiêng về chỉ vì NGƯỜI, mà ở mức giữa Ta với Người như nhau, không phân biệt đối đãi trong phép đối xử, "yêu người như yêu ta"). Thêm chữ Tâm  心 vào chữ Trung 中, thành chữ Trung 忠, ý nói là cái "tâm bình đẳng", không thiên lệch bên này hay bên kia. (Đây hẳn là “tâm bất nhị”, không biên kiến, không nhị biên, hay “trung đạo” trong Phật Giáo) 

    Thứ 恕 : gồm chữ “như và chữ “tâm” : là tâm giữ mức bình đẳng, hai bên đều như nhau, TA cũng như NGƯỜI, suy lòng ta ra (giống như) lòng người, suy lòng người ra (giống như) lòng ta; việc gì ta không muốn, chớ gia vào người, việc gì ta muốn cho mình thì cũng nghĩ cho người như thế để làm cho người. Trong sách Luận Ngữ, cư sĩ Đoàn Trung Còn giải thích "Thứ nghĩa là mình thương tưởng người như thương tưởng mình". 
    Như vậy hai chữ Trung 忠 và Thứ 恕 có nghĩa gần như nhau, là giữ tâm bình đẳng, không thiên lệch bên này hay bên kia, chữ này bổ nghĩa thêm cho chữ kia vì "bình đẳng, như nhau" cũng có nghĩa "không thiên lệch". Đây cũng chính là tâm không phân biệt.


    [5]
    Trong sách Trung Dung cũng ghi tương tự (chép lại từ sách Trung Dung của học giả Đoàn Trung Còn):

    Đức Khổng Tử nói rằng: “Ôi Đạo Trung Dung là mức cao viễn thay ! Thật là toàn thiện toàn mỹ. Đã lâu rồi, thế giáo suy vi, tình đời nghiêng ngả, cho nên ít người biết giữ Đạo ấy. (TD. 3)

    Cũng có đoạn nói Đạo Trung Dung khó tới mức dường như thi hành không được:

    Đức Không Tử nói rằng: “Đạo chẳng thi hành ra được, ta biết vậy rồi. Ấy vì người trí thì thái quá, còn kẻ ngu thì chẳng kịp. Đạo chẳng phát minh (chẳng sáng) ra được, ta biết vậy rồi. Ấy vì người hiện thì thái quá, còn kẻ thường thì chẳng kịp. Cũng như người ta ai chẳng ăn uống ? Nhưng ăn uống mà biết mùi vị thật chẳng mấy người. (TD.4)

    Điều này cũng dễ hiểu, vì hầu như ai cũng cho rằng, đã là con người thì ai cũng yêu mình hơn yêu người, ai cũng yêu người thân hơn kẻ sơ, ai cũng vì tư lợi ích kỷ và coi như đó là động lực để làm việc vì cái lợi ích của mình..., thì chẳng thể đạt tới được cái mức "yêu người như chính bản thân mình", nghĩa là hoàn toàn bình đẳng không thiên lệch (tức Trung Dung) giữa người và người được.

    Tuy Đạo Trung Dung cao viễn như thế, nhưng đức NHÂN hay Trung Thứ cũng cận kề, nên cứ theo con đường đến với đức NHÂN cũng là tới cận kề với Đạo Trung Dung vậy (Đạo Trung Dung cao viễn không cùng, là mức cuối cùng, có lẽ cũng như "tánh không" trong đạo Phật. Nếu so sánh đức NHÂN với "tánh không hai" trong Phật Giáo, thì Trung Dung chính là "tánh không" vậy; xin bàn tiếp sau, cũng "viết để ... mà chơi" thôi).



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com