TÌNH YÊU
Trong Thuyết KIÊM ÁI của Mặc Tử.
*********
Nội dung thuyết "kiêm ái" của Mặc tử là "yêu người như thể yêu bản thân mình". "Kiêm" là gồm, "kiêm ái" là gồm yêu mọi người, coi ai cũng như mình. Trái với "kiêm" là "biệt". "Biệt" là phân biệt mình với người, chỉ yêu mình mà không yêu người, đó cũng chính là lòng vị kỷ, chính là tâm phân biệt Ta/Người, là nguồn gốc của tranh giành, xung đột, chiến tranh... đưa đến được mất, hơn thua, yêu ghét, ân oán... là những phiền não, đau khổ cho con người.
Dưới đây, xin trích lại từ sách "Mặc học" của học giả Nguyễn Hiến Lê, về thuyết Kiêm ái (các đoạn trích in màu xanh) [1]:
Phần Nhì: HỌC THUYẾT MẶC TỬ.
Chương III: THUYẾT KIÊM ÁI.
Mặc dầu sống đầu thời Chiến Quốc, các nước xâm chiếm nhau mỗi ngày mỗi nhiều, chiến tranh mỗi ngày một ác liệt: Sở diệt Ngô, Thái, Kỉ; Việt diệt Cử, Đàm; các nước nhỏ khác như Đại, Đằng trước sau đều bị các nước mạnh thôn tính. Trong mỗi nước, việc giết vua, chiếm ngôi cũng thường xảy ra, như nước Trịnh giết Ai công, ba họ Hàn, Nguỵ, Triệu làm loạn nước Tấn, họ Điền chuyên quyền ở Tề. Mặc tử thấy những cảnh đó, thấy nỗi khổ của dân chúng, cho rằng không gì hại bằng loạn. Mà theo ông loạn chỉ do lòng tự tư, tự lợi của con người, không yêu người khác mà chỉ yêu bản thân mình, làm hại người để lợi cho mình.
Chương trên chúng tôi đã dẫn hai đoạn trong thiên Kiêm ái thượng mạt sát lòng ích kỉ hại nhân đó: ở trong nhà, cha con, anh em không thương yêu nhau, ai cũng nghĩ làm lợi cho mình, cho nên mới loạn; ở trong nước, nhà nào, người nào, cũng không yêu nhau,, chỉ nghĩ lợi cho mình, cho nên mới loạn; trong thiên hạ, các nước chư hầu cũng không yêu nhau, chỉ nghĩ làm lợi cho mình, cho nên mới loạn.
Đầu thiên Kiêm ái hạ, Mặc tử còn nói rõ hơn nữa:
“Hiện nay cái hại lớn nhất cho thiên hạ là gì? Đáp: “Là nước lớn đánh chiếm nước nhỏ, nhà lớn làm loạn nhà nhỏ, người mạnh hiếp kẻ yếu, số đông tàn bạo với số ít, người khôn lừa gạt kẻ ngu, người sang ngạo mạn người hèn, đó là cái hại cho thiên hạ. Lại như làm vua mà không huệ (nhân ái, gia ân), làm bề tôi mà không trung, cha không từ, con không hiếu, đó cũng là cái hại cho thiên hạ nữa. Lại như bọn đê tiện ngày nay dùng dao nhọn, thuốc độc, nước, lửa để làm hại lẫn nhau, đó cũng là cái hại cho thiên hạ nữa”.
Thái độ tự tư, tự lợi đó, Mặc gọi là “Biệt”: phân biệt mình với người, chỉ yêu mình mà không yêu người. Biệt là bậy, nó chia rẽ lẫn nhau, làm hại lớn cho thiên hạ. Phải thay cho bằng “Kiêm” là gồm, gồm yêu mọi người, coi ai cũng như mình, làm lợi cho mọi người.
“Biệt” hại cho thiên hạ bao nhiêu thì “Kiêm” lợi cho thiên hạ bấy nhiêu:
“Nếu thiên hạ đều gồm yêu lẫn nhau (kiêm tương ái), ai nấy đều yêu người như yêu thân mình thì còn kẻ bất hiếu nữa không? Coi cha anh và vua như thân mình thì còn kẻ bất hiếu nữa không? Coi con em và bề tôi như thân mình thì làm gì còn kẻ bất từ? Cho nên bất hiếu, bất từ sẽ không còn nữa. Còn trộm cướp không? Đã coi nhà người như nhà mình thì còn ai ăn trộm nữa? Đã coi thân người như thân mình thì còn ai ăn cướp nữa? Cho nên sự ăn trộm với ăn cướp sẽ không còn nữa. Còn có đại phu làm loạn nhà nhau[1], vua chư hầu đánh chiếm nước nhau nữa không? Coi nhà người như nhà mình thì còn ai làm loạn nhà nhau? Coi nước người như nước mình thì còn ai đánh chiếm nước nhau? Cho nên cái nạn đại phu làm loạn nhà nhau, chư hầu đánh chiếm nước nhau sẽ không còn nữa.
“Nếu thiên hạ gồm yêu lẫn nhau, nước nọ với nước kia không đánh chiếm lẫn nhau, nhà này với nhà kia không làm loạn lẫn nhau, trộm cướp không có; vua tôi, cha con đều hiếu từ, như thế thì thiên hạ trị”.
(Nhược sử thiên hạ kiêm tương ái, ái nhân nhược ái kì thân, do hữu bất hiếu giả hồ? Thị phụ huynh dữ quân nhược kì thân, ố thi bất hiếu? Do hữu, bất từ, giả hồ? Thị tử đệ dữ thần nhược kì thân, ố thi bất từ? Cố bất hiếu, bất từ vô hữu. Do hữu đạo tặc hồ? Cố thị nhân chi thất nhược kì thất, thuỳ thiệt? Thị nhân thân nhược kì thân, thuỳ tặc? Cố đạo tặc vô hữu. Do hữu đại phu chi tương loạn gia, chư hầu chi tương công quốc giả hồ? Thị nhân gia nhược kì gia, thuỳ loạn? Thị nhân quốc nhược kì quốc, thuỳ công? Cố đại phu chi tương loạn gia, chư hầu chi tương công quốc giả vô hữu.
Nhược sử thiên hạ kiêm tương ái, quốc dữ quốc bất tương công, gia dữ gia bất tương loạn, đạo tặc vô hữu, quân thần phụ tử gia năng hiếu từ, nhược thử tác thiên hạ trị) - Kiêm ái thượng.
Kiêm ái lợi cho gia đình, quốc gia, thiên hạ như vậy, mà cũng lợi cho cá nhân nữa, vì:
“Ai cũng đem tai tinh mắt sáng của mình mà trông nghe cho nhau, đem tay chân khoẻ mạnh làm lụng cho nhau, mà kẻ đạo lí thì hết lòng dạy bảo lẫn nhau. Cho nên người già nua mà không có vợ con thì được săn sóc, nuôi nấng cho trọn tuổi trời; trẻ em không có cha mẹ thì có chỗ nương tựa, được nuôi tới lớn”…
(Dĩ thông nhĩ minh mục tương vi thị thính hồ! Thị dĩ cố quăng tất cường tương vi động qui cử hồ! Nhi hữu đạo tứ tương giáo hối. Thị dĩ lão nhi vô thê tử giả, hữu sở thị dưỡng dĩ chung kì thọ, ấu nhược cô đồng chi vô phụ mẫu giả, hữu sở phóng y dĩ trưởng kì thân hồ). – Kiêm ái hạ.
Thật là “lô gích”: loạn do tự tư tự lợi mà sanh, dẹp lòng tự tư tự lợi đi mà yêu mọi người như chính mình, làm lợi cho mọi người như cho chính mình thì tất hết loạn, mà làm lợi cho mọi người thì cũng là làm lợi cho cá nhân mình. Vậy mà nhiều “kẻ sĩ trong thiên hạ” lại chê bai thuyết của Mặc, khiến ông phải bực mình, không hiểu tại sao.
Như vậy "kiêm ái" là "yêu người như yêu chính bản thân mình". Khi đã yêu người thì sẽ vì người (vị tha), mọi nỗ lực trong mọi công việc là để phục vụ cho... người mình yêu (tức mọi người), và nếu mọi người đều học được đức "yêu người" như thế, thì bản thân ta cũng sẽ được người phục vụ như thế. Một thế giới như vậy sẽ không có tranh giành, xung đột, không tham sân si, kiêu mạn, ganh tị... không hại lẫn nhau, đó là một thế giới hòa bình, an lạc, hạnh phúc..., chính là Thiên đàng hay Niết bàn tại thế vậy (theo đức Phật thì khi hết tham sân si là Niết bàn). Đấy là cái đích đến của loài người. Lý lẽ này luôn luôn đúng (tuy rằng rất khó, quá lý tưởng) bất kể thời gian xưa, nay, ngày sau, bất kể không gian đông hay tây, nam hay bắc, bất kể chủng tộc, nên có thể gọi là... chân lý.
Đi đến cái đích "Kiêm ái" ấy quá khó khăn, khiến cho nhiều "kẻ sĩ trong thiên hạ" thời ấy coi như là nhược điểm để chê bai :
... Thiên Kiêm ái thượng chỉ trình bày vắn tắt thuyết đó thôi, hai thiên trung và hạ chép thêm những lời chê bai và những lời đáp của ông [2] . Các kẻ sĩ trong thiên hạ đó vạch ra bốn nhược điểm: kiêm ái là việc khó làm; dùng không được; không hợp đạo làm con; không hợp tình người.
.... Người đời sau còn bác thuyết Kiêm ái ở hai điểm này nữa: đã yêu mọi người như yêu mình sao còn phạt kẻ có tội? - Người trong thiên hạ vô cùng thì yêu làm sao cho hết được.
Kiêm ái quả là... khó khăn. Cái khó khăn ấy đến từ cái ý tưởng quen thuộc như in sẵn trong lòng, là đã sinh ra làm con người thì đương nhiên, xưa cũng như nay, ai cũng thấy như ông Vu Mã Kỳ: "Vu Mã Kỳ đưa ra hai điểm: 1- Tình chung của con người là yêu mình hơn yêu người, yêu người thân hơn yêu người sơ; 2- tính của con người là tự tư tự lợi, ích kỷ",
nên "yêu người như yêu mình" là điều có vẻ như... vô lý, khó tưởng tượng đối với người đời thường. Nhưng xin trở lại vấn đề này trong một bài khác.
Tóm lại, "Kiêm" là gồm, "kiêm ái" là gồm yêu mọi người, coi ai cũng như mình, đó chính là tâm "không phân biệt Ta/Người", hay là "yêu người như yêu chính bản thân mình" (trái với "kiêm" là "biệt" là tâm phân biệt Ta/Người, là yêu Ta hơn yêu Người, là tâm vị kỷ hay ích kỷ). Nếu ai cũng đạt được Kiêm ái thì nhân loại sẽ không tranh giành, xung đột, không chiến tranh chém giết, mà nhường cơm xẻ áo, vì ai lại chém giết người... mình yêu bao giờ, ai lại để người mình yêu bị đói trong khi mình no bao giờ.
Cái đích như thế là tốt đẹp lắm chứ. Có khuyết điểm chăng là con đường (đạo) vạch ra để hướng dẫn con người đi tới cái đích đó, và những phương pháp, biện thuyết, kinh sách... (giáo), dậy người ta cách đi thế nào cho đúng hướng. Có thể không tới được cái đích vô cùng đó, nhưng khi kiên trì noi theo con đường đi tới, con người hẳn sẽ ngày một khá về đạo đức "yêu người" hơn, giảm bớt tranh giành, chinh chiến hơn, và những người đói rét được ấm no hơn... Nhưng, xin trở lại "viết để... mà chơi" tiếp trong một bài khác ./.
*
* *
1. Tình yêu trong Kitô giáo
2. Tình yêu trong Phật giáo
3. Tình yêu trong đạo Khổng.
4. Tình yêu trong thuyết Kiêm Ái của Mặc Tử
5. Tình yêu trong chủ thuyết cộng sản.
DUY ĐỨC
Aug/2011
GHI CHÚ:
[1], [2] xin xem đầy đủ tại đây .