"TÌNH YÊU" trong CHỦ THUYẾT CỘNG SẢN.
-----
I. Chuyện THẾ GIAN.
Trong thế gian, hai chữ tình yêu khiến tốn giấy mực để ca tụng nhất là tình yêu giữa chàng và nàng, kế đến là tình yêu giữa những người thân thuộc, như tình yêu giữa cha mẹ con cái... Ở đây, người viết muốn nói tới chữ tình yêu mở rộng hơn, và tột cùng rộng lớn là tình yêu giữa mọi người với nhau không phân biệt thân sơ. Và tình yêu rộng lớn này bao gồm cả những "mối tình con" kia, vì chàng, nàng, cha, mẹ, con cháu... tuy gần gũi nhưng cũng đều là người khác với mình cả. Chàng yêu nàng, mẹ yêu con... tới mức như thể yêu thân mình... chính là bước khởi đầu để mở rộng ra và tiến tới "mối tình lớn" là tình "yêu người như thể yêu thân mình".
Lời đức Khổng Tử trong sách Trung Dung trích sau đây mang ý nghĩa ấy: "Đạo của người quân tử bắt đầu từ mối tình chồng vợ, và khi đến chỗ cùng tột thì bao trùm cả trời đất" (TD.12), và: "Đạo của người quân tử ví như đi đường xa, tất phải bắt đầu từ chỗ gần, ví như leo lên đỉnh núi, tất phải bắt đầu từ noì thấp" (TD.15). "Đạo" đây là đạo Trung Dung là mức tột cùng của đức NHÂN, là "yêu người như yêu bản thân mình". Từ kinh nghiệm với "mối tình nhỏ" với người gần gũi nhất là tình phu phụ, "yêu nàng/chàng như yêu chính bản thân mình", mà mở rộng ra được tới "mối tình lớn" là yêu mọi người ... và tới chỗ cùng tột là "yêu người như yêu bản thân mình", đấy chính là sự đạt đạo của người quân tử. Nhưng người thế gian thường chỉ loay huay ở mối tình nhỏ và cho là đủ, chẳng mấy ai tìm tới mối tình lớn. Thế nên đức Khổng mới than rằng: "Trung Dung là cái đức hạnh tốt cực điểm, nhưng tiếc rằng lâu nay người ta ít đạt tới mức ấy" (LN 6.27).
Người xưa phê phán thuyết Kiêm Ái của ông Mặc Tử, "ái nhân nhược ái kỳ thân" (yêu người như thể yêu chính bản thân mình), cho là chuyện không tưởng, trái tự nhiên, như ông Vu Mã Kỳ, đưa ra lý lẽ rằng bản tính và tình cảm tự nhiên của con người là:
- Tình chung của con người là yêu mình hơn yêu người, yêu người thân hơn yêu người sơ;
- Tính của con người là tự tư tự lợi, ích kỷ.
Chẳng riêng ông Vu Mã Kỳ, người trong cõi thế gian này, hầu như ai cũng nghĩ như thế cả, với lý luận rằng chính là nhờ yêu mình nhất (kế đến là người thân), chính nhờ tư lợi để lo cho mối tình nhỏ đó, mới tạo nên cái động lực thúc đẩy con người làm việc để sinh lợi cho mình và cho người thân gần gũi và lấy đó làm hạnh phúc. Muốn lợi nhiều thì phải tìm tòi, phát minh, sáng kiến, vận dụng đầu óc... chẳng quản nhọc nhằn... nhờ đó mà xã hội mới có tiến bộ về đời sống vật chất, có phú qúy mới sinh lễ nghĩa, chứ chẳng mấy ai lại chịu làm việc với mục đích để có dư thêm mà phục vụ cho người khác mà gây mệt nhọc cho thể xác mình. Nếu không nhờ động lực ấy thì thế giới sẽ không tiến lên được nếu không muốn nói là sẽ lụi tàn. Thực tế là đúng như thế, và đã thấy vì chủ trương xoá bỏ tư lợi mà các nước đeo đuổi chủ nghĩa cộng sản đã xuống dốc.
Nhưng mặt trái của nó, thì chẳng cần triết lý sâu xa, ta cũng có thể nhận ra rằng chính tư lợi, chính lòng ích kỷ, lại là nguyên nhân đưa tới tranh giành, bóc lột, xung đột nhau để giành được lợi ích nhất cho mình... rồi người được kẻ mất, người hơn kẻ thua... sinh ra ganh ghét, đố kỵ, kiêu mạn ... và châm ngòi cho chiến tranh... rồi buồn khổ cũng từ đó mà ra. Ngày xưa, ông Tuân Tử khi nói về tích ác cũng đã giải thích như vậy: "Tính con người sinh ra là có hiếu lợi (ham thích tư lợi), thuận theo tính đó thì thành ra sự tranh đoạt lẫn nhau, mà sự từ nhượng (nhường nhịn,chia sẻ cùng người khác) không có như vậy; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính ấy thì sinh ra tàn tặc, mà lòng trung tín không có như vậy; sinh ra là có lòng muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính ấy thì thành ra dâm loạn mà lễ, nghĩa, văn lý không có như vậy. Như thế thì thuận theo cái tính của người ta (tính hiếu lợi), thuận theo cái tình của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận (tức quyền lợi của nhau), làm loạn cái lý mà mắc cái lỗi tàn bạo...". (lời dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê)
Cũng phải nhận rằng, trong những cuộc tương tranh vì tư lợi, người thắng, người được, người hơn... thì cảm thấy hạnh phúc, (tuy cũng để lại nỗi đau buồn cho người khác). Đấy là hạnh phúc theo quan niệm của thế gian, được xây dựng trên của cải vật chất, danh vọng, và cũng dựa vào sự so sánh phân biệt hơn thua, thấy người khác khổ thì cái hạnh phúc của mình lại càng... có giá trị hơn. Thế nhưng, kinh nghiệm lại cho thấy rằng "người giàu cũng khóc", danh vọng cũng có cái khổ, sự bất an, vì rằng tư dục chẳng bao giờ thoả mãn được, người giàu lại cũng vẫn phải lo toan để được giàu thêm, người có quyền uy lại muốn thêm uy quyền, người được lại muốn được nữa, được rồi thì lại sinh ra mối lo nỗi sợ là sẽ mất..... Thế là dù được hay mất, hơn hay thua thì cũng đều vướng phải lo âu, buồn phiền, bất an cả. Cho nên hạnh phúc thế gian xây dựng trên tư lợi, trên của cải vật chất danh vọng cho bản thân mình, mang tính tương đối và không bền (vô thường), thường được so sánh "như mộng ảo, như bọt nước - như sương sa, điện chớp"... có đó rồi cũng sẽ mất đó mà thôi, không phải là hạnh phúc thực sự và bền lâu được.
Thế thì sự bí ẩn của cái hạnh phúc thực và dài lâu nằm ở đâu ? -- "kinh nghiệm dạy rằng sự bí ẩn của hạnh phúc là ở chỗ phục vụ cho người khác" (Charlie Chaplin): Một người khi tự nguyện san sẻ cái mình được, mình có (đơn giản có thể chỉ là tấm lòng và công sức) để phục vụ cho người khác, gần gũi là vợ chồng, cha mẹ, con cái, và mở rộng ra là tha nhân,... tức là đem lại sự an ủi, niềm vui và hạnh phúc cho họ, thì chính bản thân người đó sẽ cảm nhận được cái hạnh phúc thật sự và lâu dài. Càng đem lại niềm vui hạnh phúc cho nhiều người thì hạnh phúc của mình càng được nhân lên. Hành động như thế có nghĩa là sống vị tha không vị kỷ vậy. Nhờ không vị kỷ nên mới coi những gì mình có là chẳng phải của riêng mình, mới có thể chia sẻ cho người, không vị kỷ nên không tranh giành vì tư lợi, mà phục vụ mọi người, nên chẳng có gì để mất; không mất thì chẳng khổ, không khổ cũng có nghĩa là hạnh phúc vậy. Và đó mới chính là hạnh phúc thực sự, vững bền, và không mất được. Xưa cũng như nay, ở những người quan tâm tới hạnh phúc của con người đều có những nhận định như vậy, xin ghi lại vài ví dụ:
- Con đường đạt tới hạnh phúc là đem lại hạnh phúc cho người khác (Robert Green Intersoll)
- Không có gì cao qúy và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho nhiều người (Ludwig Van Beethoven)
- Nhầm lẫn giàu sang với hạnh phúc là lấy phương tiện làm chuẩn đích, chẳng khác chi tưởng con dao và cái nĩa làm cho mình biết ăn ngon (De Sivry)
-"Hãy giúp thuyền người qua sông thì thuyền của ta cũng cập bến" (Ngạn ngữ Ấn Độ): đem lại hạnh phúc cho người thì chính ta cũng được tới bến hạnh phúc.
- Và trở lại thời xưa với Lão Tử, ông cho rằng người có dư mà tự nguyện san sẻ cho người thiếu thốn trong thiên hạ thì đó chính là người đắc đạo; ... càng cho đi, mình càng được thêm nhiều niềm vui và hạnh phúc... trích trong Đạo Đức Kinh: "Theo đạo Trời là bớt chỗ dư mà bù cho nơi thiếu (nơi giàu có mà san sẻ cho nơi túng thiếu, đấy là đạo Trời); nhưng đạo người thì không vậy, lại bớt chỗ thiếu mà thêm cho chỗ dư giả (thói thường của người đời là người đã giàu lại còn bóc lột kẻ nghèo khó để mà giàu thêm)! Ai là người có dư mà cung cấp cho những kẻ thiếu thôn trong thiên hạ? - chi có người đắc đạo mới làm được như vậy" (ĐĐK.77); và : "Càng vì người, mình càng thêm có; càng cho người mình càng thêm nhiều" (ĐĐK.81), càng cho đi, nghĩa là càng giúp đem lại niềm vui hạnh phúc cho người khác, thì chính bản thân mình cũng cảm nhận nhiều hạnh phúc do hành động đó đem lại [1] .
- Ông K. Marx, người chủ xướng chủ thuyết cộng sản, từ lúc còn ở nhà trường, cũng đã có nhận định như thế, rằng: "Kinh nghiệm cho thấy rằng người hạnh phúc nhất là người đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất" , phải tự mình trải qua kinh nghiệm mới thấy, chứ chỉ nghe nói thì khó mà nhận ra được cái lý lẽ ấy, còn nếu không tự kinh nghiệm qua thì thường chỉ thấy hạnh phúc là thoả mãn nhưng tư dục, tư lợi... mà thôi !.
- Và Charlie Chaplin, trong cuốn phim "A Woman Of Paris" năm 1923, cũng nói như thế: "kinh nghiệm dạy ta rằng sự bí ẩn của hạnh phúc là ở chỗ phục vụ cho những người khác" (chứ không phải ở chỗ phục vụ cho bản thân mình).
Theo những nhận định trên thì khi ta từ bỏ lòng ích kỷ, tư lợi, mà san sẻ cho mọi người (trước nhất là những người thiếu thốn khổ sở) chính là căn bản của hạnh phúc của mỗi con người. Nếu trong xã hội loài người ai cũng được như vậy thì ai cũng có hạnh phúc, mà là hạnh phúc thực sự và lâu dài. Đó là cái đích đến của con người nói chung, dù có tôn giáo hay vô thần như chủ thuyết cộng sản của ông Karl Marx.
II. "TÌNH YÊU" trong... CHỦ THUYẾT CỘNG SẢN.
Hai chữ "tình yêu" theo tinh thần tôn giáo, ghép với chủ thuyết cộng sản có vẻ gượng ép, nhưng theo lý thuyết cũng thấy có lý lẽ.
Trong bản "Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản", điều căn bản của đảng cộng sản được ông K.Marx tóm tắt như sau: "Chủ thuyết của người cộng sản có thể tóm tắt bằng một câu: xoá bỏ quyền tư hữu". Xoá bỏ tư hữu là ngăn chặn tính tư lợi vị kỷ; nhờ đó sẽ không có tranh giành, không bóc lột, không ganh ghét đố kỵ, không kiêu mạn,..., nên không có xung đột chiến tranh, và hoà bình sẽ được vĩnh cửu, mọi người sẽ được hạnh phúc. "Ý nghĩa của hòa bình là sự vắng bóng sức đối kháng với chủ nghĩa xã hội", ("chủ nghĩa xã hội" là giai đoạn đầu - cải tạo xã hội - để tiến đến cái đích cuối cùng là xã hội cộng sản), sức đối kháng ấy là lòng tư lợi vị kỷ, và những người nuôi lòng vị kỷ, mà theo K.Marc cần xóa bỏ nó đi. Đó là cái đích hướng đến của chủ thuyết cộng sản.
Khi đạt tới cái đích ấy thì mọi người "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu [2] ". Khi ấy, theo lý thuyết, không ai còn vì tư lợi vị kỷ nữa, mà ai cũng cống hiến toàn bộ năng lực của mình cho xã hội tức phục vụ mọi người, nghĩa là "mình vì mọi người" hay "vị tha". Nhưng nếu năng lực của mình so ra lại kém giá trị [3] hơn nhu cầu cuộc sống của mình, thì người ấy vẫn được hưởng theo nhu cầu ấy, từ những đóng góp của người khác cho xã hội, như vậy là "mọi người vì mình". Cho nên ta cũng thường thấy câu "mình vì mọi người, mọi người vì mình", nghe bình dân dễ hiểu hơn, để nói lên đặc tính của xã hội ấy, và xã hội lúc ấy được mệnh danh là thiên đường cộng sản, hay thế giới đại đồng.
Với bất kỳ ai, nếu không đủ năng lực tương xứng với nhu cầu cuộc sống tối thiểu của mình, thì tất nhiên người ấy sẽ mong muốn người khác bảo bọc phần thiếu sót của mình (ước muốn đó có nghĩa là "điều ta muốn người khác làm cho mình"), thì nếu biết suy bụng ta ra bụng người, nếu mình có hơn năng lực thì tự nguyện đóng góp để giúp người có ít năng lực hơn. Nói một cách tổng quát, là "điều mình muốn người khác làm cho mình, thì chính mình hãy phục vụ cho người như vậy", cũng là ý nghĩa của câu nói "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" hay "mình vì mọi người, mọi người vì mình". Khi thực hiện được như vậy, sẽ đưa tới kết quả là mọi người yêu thương nhau, vì có yêu thương mới tự nguyện vì người. Ý nghĩa này giống như, hay phát xuất từ các tôn giáo hay các triết gia, đã có từ ngàn xưa, như:
- Lời chúa Giê-su: "Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy đem điều ấy làm cho người ta", đó là khuôn vàng thước ngọc để biết yêu người.
- Nếu so sánh với chữ MHÂN (yêu người) của đạo Khổng thì cũng tương tự, như lời Khổng Tử: "Người NHÂN, hễ mình muốn lập dựng cho mình điều gì, thì cũng mong muốn cho người khác được lập dựng như vậy, muốn mình được thành đạt thì cũng mong người khác được như vậy, đây là suy lòng ta ra lòng người, muốn xử với mình thế nào thì cũng xử với người như thế. Đó là phương pháp thi hành để thành người NHÂN"; hoặc : "Điều gì thực hiện cho bản thân mình mà mình không muốn, chớ đem việc ấy mà làm cho người".
- Nếu so với học thuyết Kiêm Ái của mặc tử thì cũng vậy, với định nghĩa kiêm ái là "yêu người như yêu chính bản thân mình" (mình muốn được phục vụ ra sao, thì lấy đó làm chuẩn mức để biết phục vụ cho người khác như thế).
- Nếu so sánh cùng đạo Phật thì đó chính là "từ bi hỷ xả", thương yêu mọi người (và tiến tới cả chúng sinh), chia sẻ nỗi đau của người, vui cùng cái vui của người, xả bỏ tính chấp ngã (ích kỷ, tư lợi, giận hờn, oán thù,,,), và cái đích cuối cùng là đạo quả "Vô thượng, chánh đẳng, chánh giác", có thể diễn giải đó là xã hội mà mọi người, không so bì hơn thua, cao thấp... (vô thượng) tức là hoàn toàn bình đẳng (chánh đẳng), đó là giác ngộ hoàn toàn (chánh giác) [4] .
- Và như trên đã nêu vài câu nói của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: "Theo Đạo Trời là bớt chỗ dư bù cho nơi thiếu, nhưng đạo người thì không vậy, lại bớt nơi thiếu để bù vào chỗ dư giả! Ai là người có dư mà cung cấp cho những kẻ thiếu thốn ? - chỉ có người đắc đạo mới làm được vậy" ; hoặc... "càng vì người, mình càng có thêm, càng cho người mình càng thêm nhiều" . Đó chính là đức "từ", đứng đầu trong "tam bảo" (từ, kiệm, khiêm) của ông, "từ" là yêu người, giống như từ bi trong đạo Phật, NHÂN trong đạo Khổng, kiêm ái của Mặc Tử, và đức ái trong Kitô giáo.
Như vậy, cái đích đến của chủ thuyết cộng sản cũng mang ý nghĩa "tình yêu" giữa người và người, là một thế giới mới được xây dựng lại bằng tình yêu, ai cũng "yêu người như yêu chính bản thân mình", không phân biệt. Nếu so sánh thì cũng chẳng khác gì đích đến của các tôn giáo, là tiến tới một thế giới xây dựng trên tình yêu chân thực giữa người và người. Đó là hạnh phúc cho tất cả, là thiên đường . Có khác chăng là con đường (đạo) hay phương pháp dẫn lối cho con người tới thiên đường đó, mà mỗi tôn giáo là một con đường, chủ nghĩa cộng sản cũng là một con đường. Riêng với chủ nghĩa cộng sản, thì thực tế cho thấy đã thất bại, thì hẳn là con đường mà đảng cộng sản hướng dẫn tới cái đích của chủ thuyết cộng sản của K. Marx đã có điều sai lạc.
Có câu thành ngữ, rằng "Giang sơn dị cải, bản tính nan di", sông núi còn dễ dời chứ bản tính con người thật khó mà đổi thay. Cái tâm tính vị kỷ, tư lợi như đã gắn chặt vào con người, không thể một sớm một chiều mà biến đổi thành "vị tha" được cho dù có dùng tới bạo lực. Và chủ nghĩa cộng sản đã dùng tới bạo lực ép buộc mọi người "cộng" tài sản của mình vào của chung, thay vì dùng phương cách khuyến khích người ta chuyển đổi tâm lý. Dưới áp lực, thực tế cho thấy người ta chỉ lộ vẻ phục tùng bề ngoài, tức giả vờ, vì sợ, nhưng thực chất chẳng bao giờ làm hết sức mình để cung phụng kẻ khác, mà ngược lại, hầu như ai cũng chỉ chú tâm trí vào việc lén lút tom góp cho tư lợi..., từ đó con người biến dần thành gian dối, và hậu quả là xã hội xuống dốc cả về vật chất lẫn tinh thần đạo đức. Xuống dốc về vật chất thì sinh bần cùng, cộng thêm xuống dốc về đạo đức thì sinh đạo tặc; và, lòng ích kỷ của con người thay vì bị triệt hạ như dự tính thì ngược lại nó lại nở rộ thêm! Và hẳn đó là một trong các lý do của sự thất bại, và nay một vài nước cộng sản còn lại đang quay trở lại với tư hữu, hay là kinh tế thị trường dựa trên động lực của tư hữu, mà trước kia đã ra sức loại bỏ. Nhưng cũng chẳng dễ chút nào, vì cái tính tư lợi ích kỷ bị đè nén nay được dịp bung ra lại còn dữ dội hơn, cứ xem hàng giả, hàng gian, dối lừa, tham lam, nhũng lạm,... thì thấy.
Nhưng đây là chuyện kinh tế chính trị, chẳng dám lạm bàn, nếu quý bạn đọc thích đề tài này xin đọc "Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê", ghi lại một giai đoạn cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Ở đây người viết chỉ tìm hiểu về lý thuyết cái đích đến của chủ thuyết cộng sản, và so sánh với các tôn giáo, và qui tới một kết luận đó là cái đích chung của con người, chứ chẳng phải là của riêng chủ thuyết cộng sản: đó là một thế giới mới xây dựng bằng tình yêu thương giữa người và người, không phân biệt, ai cũng "làm theo năng lực " của mình để phục vụ lẫn nhau. Trong thế giới mới ấy không có xung đột chiến tranh nữa, mà hoà bình vĩnh cửu, và mỗi người đều hạnh phúc vì được sự quan tâm của mọi người khác. Mục đích giống nhau, nhưng phương pháp hay con đường (đạo) hướng dẫn người ta đi tới đích thì có nhiều, trong đó có chủ nghĩa cộng sản và các tôn giáo. Tìm hiểu các hướng đi ấy có lẽ sẽ cho ta câu trả lời "Tôn giáo là gì?". Qua một vài bài khác nữa, người viết sẽ xin trở lại với câu trả lời này, theo suy luận riêng, "viết để... mà chơi thôi"./.
Duy Đức
Dec/23/2011
[1] Một người đói nhận được miếng cơm ăn, cảm thấy hạnh phúc, đó là một ý nghĩa của chữ "hạnh phúc" trong đời thường. Người tặng miếng cơm cho người đói ấy nếu cũng cảm thấy hạnh phúc nhờ hành động ấy, thì đây là nghĩa thứ hai của chữ "hạnh phúc", là ý nghĩa trong Đạo.
[2] "hưởng theo nhu cầu" chỉ nên hiểu là nhu cầu mang tính công bằng giữa người này với người kia, chứ không phải nhu cầu vô hạn.
[3] Tưởng tượng, khi xã hội đã đạt tới xã hội cộng sản: người ta không nói một giờ làm việc của một người có giá trị (để được hưởng nhu cầu) hơn người khác, nhưng theo ý nghĩa "công bằng xã hội cộng sản" thì một giờ làm việc nhiệt tình với hết khả năng của người này, so với một giờ làm việc nhiệt tình như thế của một người khác, có giá trị (để được hưởng nhu cầu) ngang nhau, mặc dù hai người trình độ khác nhau. Ví dụ một nhà khoa học với một người công nhân vệ sinh, cùng làm việc nhiệt tình với hết năng lực của mình thì giá trị (để được hưởng theo nhu cau cầu) giống nhau. Nhưng trong một xã hội chưa phải cộng sản thì không như thế, hiệu quả làm việc của nhà khoa học cao hơn người công nhân kia, nên ông được hưởng nhiều hơn.
[4] Xem giải thích tại đậy "Tình Yêu trong Phật Giáo" về pháp Phật và cũng là đạo quả Phật "Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác".