TÂM PHÂN BIỆT
trong TÍN TÂM MINH
------

TÂM PHÂN BIỆT.

 

Với  các giác quan cùng trí óc, con người ghi nhận sự sai biệt của mọi sự việc bên ngoài như cao/thấp, nhiều/ít, dài/ngắn, ông A/ ông B, hoa hồng/hoa cúc, TA và NGƯỜI khác..., đó là trí phân biệt, một sự phân biệt khách quan, ai cũng như ai đều thấy như vậy. 

Thế nhưng khi sự phân biệt  ấy thâm nhập vào và kích động nội tâm, mỗi người lại thể hiện một tình cảm khác nhau, đưa tới thích cái này, ghét cái nọ, yêu người này ghét người kia,.... Đó là tâm phân biệt. Khi có sự so sánh phân biệt hơn kém, yêu ghét như vậy, con người sinh lòng lòng tư dục, đưa đến chọn lựa thủ giữ cho mình những thứ mình yêu thích. Ai cũng mang tâm phân biệt như thế, ít hay nhiều, nên sinh ra tranh giành, xung đột ... rồi được mất, hơn thua... lo lằng, buồn phiền, đau khổ.

Ngoại trừ người mất trí, trí phân biệt là chuyện bình thường của con người, nếu không nói là cần thiết cho sự tiến hoá. Nhưng tâm phân biệt (mà đứng đầu là phân biệt TA/NGƯỜI) lại là nguyên nhân của đau khổ, cần phải loại bỏ.

Tâm phân biệt đứng đầu là phân biệt TA/NGƯỜI, mà sự thiên vị hướng về TA hơn là NGƯỜI (tức là tánh vị kỷ, ích kỷ, vị ngã, chấp ngã), sinh ra tình cảm yêu/ghét, mà luôn luôn TA yêu thương cái thân ta hơn người khác, yêu người thân của TA hơn NGƯỜI khác nên muốn giành cái mình yêu thích cho mình, đó là "ái dục" là lòng si mê, muốn giành kể cả của người khác, là lòng tham. Ái dục và tham lại đưa tới tranh giành xung đột để mong chiếm đoạt và thủ giữ cho mình những gì mình yêu thích,... dẫn tới được/mất, hơn/thua, ân/oán... đưa tới sân hận rồi lo lắng buồn phiền, khổ đau. 

Trong Kinh Viên Giác, đức Phật giải thích về yêu/ghét như sau: " Do có vô minh từ khởi thủy, lấy cái TA (vị kỷ) làm chủ tể, tất cả chúng sanh, sanh ra không có tuệ giác, nên thân tâm đều vô minh như vậy. Ví như có người không thể tự đoạn thân mình, thì rõ là do lòng yêu TA mà ra; điều gì tùy thuận với TA thì yêu thích, nếu chẳng tùy thuận thì oán ghét. Vì tâm yêu ghét lại nuôi dưỡng vô minh thêm, nên có tiếp tục cầu đạo (mà không bỏ tâm yêu ghét) thì cũng không thể thành tựu được". (Do hữu vô thủy bản khởi vô minh vị kỷ chủ tể. Nhất thiết chúng sanh, sanh vô tuệ mục, thân tâm đẳng tánh giai thị vô minh. Thí như hữu nhân bất tự đoạn mệnh, thị cố đương tri hữu ái ngã giả, ngã dữ tùy thuận, phi tùy thuận giả tiện sanh tắng oán.Vị tắng ái tâm dưỡng vô minh cố, tương tục cầu đạo giai bất thành tựu)

Nếu loại bỏ sự yêu/ghét mà đối đãi mọi người như nhau thì chẳng có phiền não, là loại bỏ tâm phân biệt mà "trở về" hay "tiến tới" tâm không phân biệt.

Tâm phân biệt cũng mang nghĩa tâm nhị nguyên, nhị biên, biên kiến, thiên kiến, thiên chấp, thiên vị (phân hai bên, và tâm thiên lệch bên này hay bên kia); và tâm không phân biệt cùng nghĩa vớt tâm bất nhị, không biên kiến, không thiên kiến (không còn thiên lệch bên này bên nọ), và cùng tột của nó là "tánh không".

Bỏ tâm phân biệt trở về với tâm không phân biệt là tâm bất nhị, hay tánh "không hai", nghĩa là trở về "một" (vì không còn phân hai). Trở về "một" là trở về với Đạo, và tột cùng của "một" chính là "tánh không" là chí Đạo. Ví dụ yêu/ghét là phân biệt nhị nguyên, bỏ "ghét" [1] thì chỉ còn "yêu" mà thôi, trở thành "bất nhị", hay không hai mà chỉ còn một. Sở dĩ có chữ "yêu" là vì có "ghét", vì khi cái này sinh vì cái kia sinh, khi cái kia mất thì cái này cũng mất, nên chữ "yêu" cũng sẽ biến mất tên gọi để trở thành "không yêu/không ghét", không phân biệt, chính là "tánh không" là cái tột cùng của Đạo.

TÂM PHÂN BIỆT trong TÍN TÂM MINH.

Ngay từ hai câu đầu tiên trong bài Tín Tâm Minh, Tổ Tăng Xán đã nói về tâm phân biệt, như là cốt lõi về sự truyền giảng của ông về giáo lý Phật (lời dịch giải đi kèm theo là của 
Dương Gia (DG) và Tỳ kheo Thích Duy Lực (TDL):

1/ Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch,
(
Đạo tột cùng chẳng có gì khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó (TDL) - Đạo lớn không khó với ai không phân biệt (DG)

2/ Đản mạc tăng ái động nhiên minh bạch.
(Ch
ỉ đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch (TDL) - Không còn yêu ghét, thì mọi sự đều sáng tỏ (DG)
"Giản trạch" là lựa chọn. Người có tâm phân biệt thì tình cảm thiên lệch, yêu người này ghét kẻ nọ, thích bên này ghét bên kia..., từ đó đưa tới sự lựa chọn những gì mình yêu thích, mà dẫn tới tranh chấp, xung đột để giành cho mình cái mình yêu thích. Có tranh giành, xung đột, thì có được mất, hơn thua, đưa tới lo lắng, buồn phiền... hay đau khổ. Bởi vậy, chính tâm phân biệt khiến con người rời xa đạo, ngược lại bỏ tâm phân biệt là đạt đạo lớn. Nên "Đạo lớn không khó với ai không phân biệt" 

Tâm phân biệt đưa tới yêu/ghét, và tiếp tới là tranh giành xung đột, là nguyên nhân của đau khổ. Khi không còn yêu/ghét cũng là rời bỏ tâm phân biệt thì tâm mình được sáng tỏ ý đạo. Nên "không còn yêu ghét, mọi sự đều sáng tỏ".

Ông Tăng Xán là tổ thứ ba của thiền tông, và Tín Tâm Minh là bài viết duy nhất của ông về đạo Phật, thì hẳn là cốt tủy của đạo là nằm ở đấy. Trong các tác phẩm cô đọng như Tín Tâm Minh, thì ý chính, cái đích  tổng quát nhất mà tác giả muốn nói thường ở những câu đầu tiên, hoặc là ở cuối kết luận, hoặc cả hai. Và ý nghĩa của những câu đầu tiên trong Tín Tâm Minh là : mang tâm phân biệt là xa rời đạo, trở về với tâm không phân biệt là ánh sáng của đạo lớn sáng tỏ. Đấy là cốt tủy của đạo Phật, vì trong Kinh Viên Giác cũng nói rằng:

"Nếu hay đoạn yêu ghét
cùng với tham sân si,
Chẳng do tánh sai biệt
(có người ghi là : chẳng cần tu gì khác)
Đều được thành Phật đạo"
(D
ịch giải của ht Thích Thanh Từ)
Tâm phân biệt đưa tới yêu/ghét và tạo nên tánh tham sân si. Đoạn tham sân si cũng là đoạn yêu/ghét và trở về với tâm không phân biệt, là đạt Đạo.

"Này thiện nam, chúng sanh thời mạt thế không được thành đạo, là do còn mang mầm mống phân biệt Ta/Người và yêu/ghét, nên chưa giải thoát được". (Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh bất đắc thành đạo, do hữu vô thủy tự tha (Ta /Người) tắng ái nhất thiết chủng tử, cố vị giải thoát).

Và những câu tiếp theo của Tín Tâm Minh, vẫn diễn giải xung quanh cái chủ đích là tâm KHÔNG phân biệt, và kèm theo là những lời chỉ dẫn ngắn gọn cho biết làm sao để trở về với tâm không phân biệt. Xin đi tiếp:

3/ Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách.
(Chỉ một thoáng phê phán, cũng khiến đất trời xa nhau vô tận (DG).
Ở đây chữ "sai" là sự sai biệt, khác biệt, không như nhau, mang nghĩa phân biệt. Như vậy ý câu này là "chỉ một chút phân biệt , là đã xa cách vô tận với đạo rồi".

Chữ "sai" cũng có nghĩa là không đúng, sai trái... cũng bao hàm trong tâm phân biệt. Trái/phải, đúng/sai mang nghĩa phê phán, cũng là từ tâm phân biệt mà có. Như vậy chỉ một thoáng phê phán, cũng là một thoáng phân biệt, cũng khiến xa rời đạo lớn.

4/ Dục đắc hiện tiền mục tồn thuận nghịch.
(Muốn đạt chân lý, hãy tránh phân biệt phải trái (DG).
Thuận/nghịch là tượng trưng cho xung đột vì yêu/ghét, hơn/thua, nhiều/ít, ân/oán, phải/trái... là những nhị nguyên đối đãi phát xuất từ tâm phân biệt. Và tâm phân biệt đưa tới thuận/nghịch... Muốn đạt chân lý tức đạt Đạo, thì hãy tránh phân biệt phải trái tức là bỏ tâm phân biệt.

5/ Vi thuận tương tranh thị vi tâm bệnh.
(b
ận rộn với đúng sai là bệnh của tâm (DG)

Vi / thuận là phải/trái là thuận/nghịch cũng là nhị nguyên phân biệt đối đãi, từ tâm phân biệt mà ra. Khi còn trái phải là còn tương tranh, tức là còn tranh giành, xung đột đưa tới đau khổ, thì đó là cái bệnh của tâm. Có bệnh của tâm tức là còn xa lìa đạo. Tâm phân biệt chính là bệnh của tâm, làm xa rời chí đạo.

6/ Bất thức huyền chỉ đồ lao niệm tịnh.
(Chưa hiểu bản chất của sự vật thì tâm còn bất an (DG) - ch
ẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh (TDL).

"Huyền chỉ" là mệnh lệnh huyền diệu, sâu xa (giống như thiên mệnh trong đạo Trung Dung, hay cụ thể hơn, giống như sắc chỉ của Vua), ý nói "chí đạo". Không hiểu "chí đạo" ("chí đạo" chính là tâm không phân biệt, như nghĩa câu đầu tiên "chí đạo vô nan duy hiềm giản trạch"), thì tâm sẽ mãi bất an, cho dù có bỏ công tụng niệm cầu mong an tịnh cũng chỉ uổng công nếu không bỏ tâm phân biệt. Bởi vì "đạo lớn không khó với ai không phân biệt" và hẳn khó khăn lắm với ai cứ ôm giữ tâm phân biệt.

7/ Viên đồng thái hư vô khiếm vô dư.
(Đường Đạo hoàn hảo như không gian, không thiếu cũng không thừa (DG).
Trọn vẹn hoà đồng (viên đồng) cùng nhau, không phân biệt, thì tâm cực kỳ trống rỗng (thái hư) không yêu/ghét, không ân/oán, không hơn/thua, không được/mất..., nên cũng chẳng còn mảy may có phân biệt thiếu hay thừa. Như vậy với tâm không phân biệt, đối đãi bình đẳng, như nhau, sống trọn vẹn hoà đồng cùng nhau..., là đạt tới đạo lớn.

8/ Lương do thủ xả sở dĩ bất như.
(Chính vì cứ khẳng định hoặc phủ nhận nên chẳng bao giờ nhận thức được thực chất của sự vật).
Chính vì mang tâm phân biệt nên đưa tới sự chọn lựa,mới có sự giữ cái này bỏ cái nọ (thủ/xả), nên chẳng thể nhận ra chân lý của đạo (là tâm không phân biệt).

10/ Nhất chủng bình hoài dẫn nhiên tự tận.
(Sống ung dung tự tại, hài hoà với mọi vật thì chẳng còn mê lầm (DG).
Giữ trọn sự bình đẳng, tức là không phân biệt, thì thoát khỏi sự mê lầm.

12/ Duy trệ lưỡng biên ninh tri nhất chủng.
(Còn đi từ thái cực này sang thái cực khác thì càng xa tâm phật (DG) - hễ kẹt hai bên, đâu biết vốn một (TDL).
"Luỡng biên" cũng là nhị biên, biên kiến, là phân biệt hai bên. Ví dụ yêu/ghét, hơn/thua... là phân hai thái cực, là lưỡng biên, từ đó đưa tới sự chọn lựa để giành giật một bên nào mình ưa thích hơn, đó là thiên chấp, thiên kiến, biên kiến, thiên vị..., đó cũng là do tâm phân biệt TA/NGƯỜI mà ra. Nếu cứ ôm giữ tâm phân biệt nhị nguyên (phân hai, lưỡng biên) thì đâu biết cái nhất nguyên ("không hai" là như nhau, tuy "hai" mà như "nhất") là không phân biệt, là chí đạo.

13/ Nhất chủng bất thông lưỡng xứ thất công.
(Còn ôm giữ tâm phàm thì có năng động hay an tịnh, khẳng định hay phủ nhận thì cũng chẳng tìm ra tâm Phật (DG) - V
ốn một chẳng thông, thì đặt ra hai chỗ là uổng công (TDL)
Chữ "nhất" tượng trưng cho tâm bất nhị, tức không hai (mà là "một", TA với Người như nhau, như một) hay không phân biệt. Không hai hay không phân biệt thì trở về "một" là nhất nguyên. Không thông cái nhất nguyên (bất nhị) mà ôm giữ nhị nguyên đối đãi (tâm phân biệt) chỉ uổng công (cho dù có tu kiểu gì đì nữa), vì như vậy là xa rời đạo lớn.

Xin ghi tiếp đây những câu dịch giải của Dương Gia, bàng bạc ý nghĩa của tâm phân biệt nhị nguyên (xa rời Đạo) - hay - không phân biệt tức bất nhị (là đạt Đạo), cốt lõi của Tín Tâm Minh:

21/ Không nên lúc nào cũng phân biệt tốt xấu; hơn thế nữa, nên thận trọng dẹp bỏ thói quan này.
22/ Còn quyến luyến điều này điều nọ, còn phê phán đúng sai, thì tâm sẽ rối loạn. 
25/ Không còn quyến luyến tư tưởng yêu ghét, cái tâm cũ không còn nữa.
26/ Một khi "ta" và sự vật nên ngoài (người khác, ch
úng sinh) không còn chia chẻ (không phân biệt Ta/Người, Ta/Chúng sinh...) thì tâm cũng chẳng còn.

27/ Vì có chủ thể nên mới có vật đối tượng. Vì có vật nên mới có chủ thể.
khi cái TA nổi dậy làm chủ thể, thì đối đãi nhị nguyên của nó là Người cũng xuất hiện: đấy là tâm phân biệt Ta/Người hình thành, với sự thiên lệch nghiêng về chủ thể là Ta.

28/ Hãy hiểu rằng chủ thể và đối tượng  chỉ là hai mặt của một thực tại duy nhất: tánh không (tâm không phân biệt chủ thể/đối tượng, hay là phân biệt Ta/Người).

41/ Chỉ có một chân lý, một đường đạo, một giới luật (có lẽ ý nói giới luật "không phân biệt"). Kẻ mê muội cần bám víu nên thích phân biệt.
42/ Đi tìm trí tuệ bằng cái tâm phân biệt là sai lầm lớn nhất.
43/ Tĩnh và động đều là ảo tưởng. Một khi đã giác ngộ thì không còn yêu ghét.
44/ Vì thiếu sáng suốt nên mới phân biệt tốt xấu.
45/ Tốt xấu, phải trái (phân biệt) giống như ảo ảnh, huyễn mộng. Có khờ mới nắm bắt lấy chúng.
46/ Phải từ bỏ những tư tưởng hơn thiệt, đúng sai tức thời.

........

Cho đến đoạn cuối, phần kết luận, lại càng nhấn mạnh tới cái cốt lõi của đạo là tâm không phân biệt hay tâm bất nhị (vì bất nhị là không còn phân hai bên, cũng là tâm không phân biệt):

60/ Chân như pháp giới vô tha vô tự.
(chân như pháp giới, chẳng người chẳng mình (TDL) - Trong cõi như thị này, chẳng còn ngã cũng chẳng còn cái gì không phải là ngã (DG)

Pháp giới của chân như ("chân như" cũng là "chí đạo"), là không phân biệt NGƯỜI với TA (vô tha vô tự. "Tự" là mình, của mình; Ta, của Ta).

61/ Yếu cấp tương ưng duy ngôn bất nhị.
(Để sống hoà hợp với thực tại này, mỗi khi ngờ vực chỉ cần nói "không hai" (DG) - gấp muốn tương ưng, chỉ nói bất nhị (TDL)
Điều quan trọng và cấp thiết là cùng đáp ứng theo một lời duy nhất là "bất nhị" (không hai). "Tâm bất nhị" là tâm không phân biệt.

62/ Bất nhị giai đồng vô bất bao dung.
(Trong "không hai", không có gì phân cách, không có gì bị loại ra ngoài (DG)
Khi tất cả đều cùng "bất nhị" (bất nhị giai đồng), không phân biệt, thì không có gì mà chẳng bao dung nhau được (vô bất bao dung). Lúc này không còn ghét, không oán, không giận, không thù... là thế giới đầy bao dung, an bình hạnh phúc.

...................

KẾT LUẬN: Thế thì...:  "Tín Tâm" theo thiền sư Tăng Xán là nghĩa gì? 

72/ Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm.

Tín tâm là sống với cái tâm bất nhị - và ngược lại - tâm bất nhị tức là Tín Tâm: Tâm bất nhị là không phân biệt (hàng đầu là phân biệt TA/NGƯỜI), nên không yêu/ghét, không được/mất, hơn/thua, không cao/thấp mà tuyệt đối bình đẳng không oán thù không sân hận, là bao dung, "bất nhị giai đồng vô bất bao dung".

"Đạo lớn không khó với ai không phân biệt", tâm bất nhị cũng là không phân biệt, nên tâm bất nhị cũng là chí đạo. Mặt khác tâm bất nhị cũng là Phật tánh, và đạt tới Phật tánh tức là Đạo. Như vậy có thể hiểu "Tín Tâm" của tổ Tăng Xán chính là chí đạo vậy.

73/ Ngôn ngữ đạo đoạn phi khứ lai kim.
(Ngôn ngữ! Đạo vượt khỏi ngôn ngữ, vì trên đường 
đạo không có hôm qua, không có ngày mai, không có hôm nay (DG)

Khứ/lai là phân biệt, bỏ quá khứ và vị lai là "phi khứ / phi lai", là bất nhị, chỉ còn lại là hiện tại (kim) [2]. Nhưng sở dĩ có ý niệm về "hiện tại" là vì có ý niệm về "quá khứ" và "vị lai", nên khi "khứ và lai" đều không còn (bất nhị) thì ý niệm về "hiện tại" (kim) cũng không còn nữa, thành ra bất nhị "phi khứ phi lai" cũng sẽ đưa tới "phi kim", cả ba đều mất "phi khứ, lai, kim", là mức tột cùng của đạo lớn. Khứ, lai, kim chỉ là ngôn ngữ tương sinh cùng với sự chuyển biến của tâm phân biệt, cái này có do cái kia sinh, cái kia mất thì cái này cũng mất, (có lẽ cùng ý câu "danh khả danh phi thường danh" của Lão Tử). Và tận cùng của bất nhị là "không" (phi khứ, lai, kim) là tâm không phân biệt. Nên "Đạo vượt khỏi ngôn ngữ" là vậy. Và tột cùng của "tâm bất nhị" là tâm không phân biệt, "tâm không" (tánh không), buông bỏ tất cả không còn vướng mắc gì mà hoàn toàn thanh tịnh. Đó là đạo lớn. Và trở lại câu đầu của Tín Tâm Minh "Đạo lớn không khó với ai không phân biệt".

Yêu/ghét cũng vậy: khi buông bỏ được chữ "ghét" [1] thì chữ "yêu" cũng chẳng cần (vì có chữ "yêu" là do cái tình cảm không ưa xuất hiện đặt tên là "ghét" ), trở thành bất nhị, và tận cùng là tâm không phân biệt "không yêu/không ghét" là đến với đạo lớn. Đạo vượt khỏi ngôn ngữ là vậy. Và trở lại với câu 2 của Tín Tâm Minh "Không còn yêu ghét thì mọi sự đều sáng tỏ".

Phân biệt Ta/Người, yêu/ghét, hơn/thua, ân/oán, thân/sơ, thiện/ác... đều là tâm nhị nguyên phân biệt. Bỏ tâm nhị nguyên phân biệt để trở thành tâm không phân biệt Ta/Người, không yêu/ghét, không hơn/thua, không ân/oán, không thân/sơ, không thiện/ác... Đó là tâm bất nhị, hay tánh không hai, tâm không phân biệt. Tâm không phân biệt Ta/Người là không ích kỷ, mà vì người như vì ta, là "yêu người như yêu bản thân ta", không còn phân hai, và tánh không hai là Phật tánh, là ngộ Đạo lớn. 

Tóm lại : đại Đạo chính là tâm không phân biệt. Và tâm không phân biệt cũng là tâm điểm trong Kinh Kim Cang,  xin bàn kế tiếp sau ./.

Duy Đức.
Jan/02/2012

GHI CHÚ:

[1] Có thể có câu hỏi ngược lại: bỏ "yêu" mà "ghét" tất cả để cũng trở về bất nhị là "không yêu/ghét" được không ? Điều này là không thể, vì rằng cái sự yêu TA không thể nào bỏ được vì nó là bản chất con người, không thể kiếm được người nào lại không yêu mình cả, ngoại trừ người mất trí. Nên có thể TA ghét tất cả, kể chả người thân gần gũi, nhưng vẫn còn cái TA để yêu thì cặp phân biệt nhị nguyên yêu/ghét vẫn còn, không thể trở thành "bất nhị" được.

Thành ra con đường tới bất nhị là phải khởi đầu bằng cách bỏ cái lòng "ghét" trước, không "ghét" chỉ còn "yêu", và tiến tới yêu người như yêu bản thân (vì yêu ta hơn người thì vẫn có nghĩa là ghét người, vẫn thiên lệch, vẫn phân biệt)... Và khi chữ "ghét" đã mất thì chữ "yêu" là đối đãi nhị nguyên của nó cũng không còn cần thiết nữa, thành ra "không yêu/không ghét". Nhưng đó chỉ là ngôn ngữ mà thôi, khi đã không yêu không ghét thì ngôn ngữ yêu ghét cũng đâu còn tồn tại, mà chỉ còn là cái tình...(không yêu/không ghét)... không ngôn ngữ diễn tả, vì không cần thiết. Và Đạo vượt trên ngôn ngữ. "Không còn yêu/ghét thì mọi sự đều sáng tỏ".

[2] Đức Phật nói: "quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ có mặt trong hiện tại, nên cần phải an trú trong hiện tại", ý nói là hãy buông bỏ những ưu phiền tiếc nuối nơi quá khứ (vì đã qua không níu kéo lại được), và cũng buông bỏ những lo lắng cho vị lai là cái chưa tới, mà chỉ chú tâm làm những điều tốt lành cho cái hiện tiền; như vậy là cần buông bỏ sự phân biệt quá khứ và vị lai, mà chú tâm vào hiện tại là bất nhị (phi khứ/phi lai), để tránh những lo lắng ưu phiền.

Theo nguyên lý nhị nguyên, cái này có do cái kia sanh, cái kia diệt thì cái này cũng mất; Có ý niệm về "khứ" là do có ý niệm về "lai" phát sinh, và vì có "khứ" có "lai" nên mới có "kim" (hiện tại), nên cuối cùng khi "khứ" và "lai" đã buông bỏ thì "kim" cũng không còn nữa và trở thành "phi khứ, lai, kim", đó là mức tột cùng của Đạo lớn, là tánh "không", tâm con người hoàn toàn rỗng lặng. Và Đạo vượt trên ngôn ngữ.



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com