TÂM PHÂN BIỆT
trong ĐẠO TRUNG DUNG của KHỔNG TỬ.
-------
TÂM PHÂN BIỆT : thiên lệch.
Với các giác quan cùng trí óc (lục căn, theo Phật giáo), con người ghi nhận sự sai biệt của mọi sự việc bên ngoài (lục trần, theo Phật giáo) như cao/thấp, nhiều/ít, dài/ngắn, ông A/ông B, hoa hồng/hoa cúc, màu xanh/đỏ, TA và NGƯỜI khác, hoặc sự biến chuyển của vạn vật quá khứ/hiện tại/tương lai đều biến đổi khác biệt... Đó là trí phân biệt, một sự phân biệt khách quan, ai cũng đều thấy như vậy.
Thế nhưng khi sự phân biệt ấy thâm nhập vào nội tâm (mà trong lý thập nhị nhân duyên của Phật giáo gọi là "lục nhập"), mỗi người lại thể hiện một tình cảm khác nhau, đưa tới thích cái này ghét cái nọ, yêu người này ghét người kia, mà trọng yếu nhất yêu cái TA hơn NGƯỜI khác ... Đó là tâm phân biệt.
Khi có tâm phân biệt hơn/kém, yêu/ghét như vậy, tâm con người sẽ có sự thiên lệch (thiên vị, thiên chấp, thiên kiến) , nghiêng về một bên, nghiêng về bản thân ta hơn là người khác, thiên vị người thân hơn là kẻ sơ. Như vậy, tâm phân biệt cũng chính là lòng vị kỷ, ích kỷ, vị ngã: vì lợi ích của bản thân mình hơn là người khác.
Ai cũng thiên lệch như thế nên sinh ra tranh giành, xung đột vì muốn giành cho mình cái mình yêu thích (đó là ái dục, hay tư dục)... và hậu quả là có được/mất, hơn/thua và sinh tình cảm mừng/giận, buồn/vui. Được thì vui, hơn thì mừng, mất thì buồn, thua sinh giận...; mà cho dù có "được" thì cũng lo mất, có "hơn" thì lại lo thua. Thế là dù được hay mất, hơn hay thua, thì cũng mang lại lo lắng, buồn phiền, đau khổ. Tâm phân biệt, sự đối đãi thiên lệch, chính là căn nguyên của đau khổ.
TÂM KHÔNG PHÂN BIỆT: không thiên lệch
Với tâm không phân biệt thì không thiên lệch về bên nào cả, mà đối đãi hai bên như nhau, TA cũng như NGƯỜI, NGƯỜI cũng như TA, nên không đưa tới tranh giành xung đột, không hơn/thua, nhờ đó mà không được/mất, hơn thua, nên không mừng giận, buồn vui (mà có một niềm hạnh phúc khác hẳn, lâu bền, vì không vướng mắc vào được/mất, hơn/thua). Ngược với tâm phân biệt mang tính vị kỷ, tâm KHÔNG phân biệt mang nghĩa vị tha, vì người như vì mình, không thiên lệch.
Tưởng tượng, cái thuở ban đầu khi mới được tạo thành trên trái đất (lấy ví dụ ông Adam trong kinh thánh), con người hẳn là chưa có tranh giành xung đột, nên cũng không có được/mất hơn/thua, nên lại càng không có chuyện mừng/giận, buồn/vui, đó là lúc chưa khởi tâm phân biệt. Đây chính là bản tính Trời sinh, gọi là Thiên tính. Cái bản tính Trời đã ban như thế thì Trời cũng muốn con người phải gìn giữ lấy. Đó là mệnh lệnh của Trời hay Thiên mệnh. (Cũng xin được nhắc lại, cái "vui" cái "mừng" có trong được/mất hơn/thua là tình cảm được người đời thường ưa chuộng và tìm kiếm, nhưng thực sự cũng có một cái "VUI" khác, khác hẳn với cái "vui" kia, đối với người nào đó không bị vướng mắc vào được/mất hơn/thua.)
Ví như khi cái tình cảm mừng/giận, buồn/vui đã xuất hiện ra rồi (mà hiển nhiên là ai cũng có rồi), để giữ được mệnh lệnh của Trời thì phải hành động cư xử thế nào để trở về với cái bản tính khi chưa có phân biệt mừng/giận buồn/vui, nghĩa là chưa có được/mất, hơn/thua, --> chưa có tranh giành, xung đột, --> chưa có yêu/ghét, --> và chưa có cái nhân đầu tiên là phân biệt TA (hơn)/ NGƯỜI. Cái hướng đi trở về ấy gọi là Đạo. Và làm sao đi được đúng hướng trở về ấy? - là nhờ các vị thánh hiền đả tỏ ngộ chỉ đường vạch hướng , đó gọi là Giáo. Đấy là tóm lược ý của đạo Trung Dung của đức Khổng Tử như giải bày dưới đây.
TÂM PHÂN BIỆT trong ĐẠO TRUNG DUNG.
Lời đức Khổng Tử, khởi đầu của sách Trung Dung (TD):
"Thiên mệnh chi vị TÍNH; suất tính chi vị ĐẠO; tu đạo chi vị GIÁO". (TD.1) : Mệnh Trời gọi là "tính", noi theo tính gọi là "đạo", tu dưỡng theo đạo gọi là "giáo".
Ông Tử Tư là cháu của đức Khổng, ghi lại lời của ngài về đạo Trung Dung, và sau này ông Chu Hi [1] phân thành chương thành câu gọi là "Trung Dung Chương Cú". Ông Chu Hi giải thích chữ TÍNH như sau:
"Hỉ nộ ai lạc, tình dã; kỳ vị phát tắc tính dã " [4] -- mừng/giận buồn/vui là tình cảm của con người; khi tình cảm ấy chưa phát khởi ra, thì đó là TÍNH.
Từ đâu phát sinh ra mừng/giận buồn/vui? - Tâm phân biệt. Tâm phân biệt là thiên lệch --> yêu bên này ghét bên kia, yêu người này ghét kẻ khác. --> Có yêu có ghét thì có tranh giành để giành cái mình yêu thích, --> rồi có được/mất, hơn/thua --> Có được/mất, hơn/thua thì sinh ra --> mừng/giận, buồn/vui. Thế thì mừng/giận buồn/vui là những tình cảm của con người (hỉ/nộ ai/lạc, tình dã) do tâm phân biệt mà ra.
Như vậy:
(1) khi cái tình cảm mừng/giận, buồn/vui CHƯA khởi phát --> thì tâm con người hãy còn là "tâm KHÔNG phân biệt".
và, theo ông Chu Hi:
(2) khi cái tình cảm mừng/giận, buồn/vui CHƯA khởi phát --> thì đó là TÍNH.("hỉ nộ ai lạc" kì vị phát, tắc TÍNH)
So sánh (1) và (2) theo kiểu ... toán học... thì "tâm KHÔNG phân biệt" chính là cái TÍNH [2] mà đức Khổng Tử nói. Tâm không phân biệt thì không thiên lệch bên này bên kia, nên TÍNH cũng có đặc tính là không thiên lệch.
Vậy, TÍNH cũng chính là "tâm KHÔNG phân biệt" là cái bản nhiên của con người do Trời đặt để, và mệnh lệnh của Trời là phải giữ gìn lấy. Nếu cái TÍNH ấy đã để bị che lấp mất, nghĩa là đã khởi tâm phân biệt (đưa tới yêu/ghét, mừng/giận, buồn/vui... che lấp mất cái TÍNH ấy) thì cũng phải noi theo nó mà trở về: đó là con đường phải đi, là ĐẠO (noi theo TÍNH gọi là ĐẠO)
Cái TÍNH (bản tính Trời phú cho) ấy dễ bị che lấp vì con người dễ bị ngoại cảnh (lục trần, nói theo Phật giáo) cám dỗ, nhưng con đường (đạo) trở về với TÍNH chẳng phải dễ dàng nên cần phải có sự hướng dẫn của các vị thánh hiền đã tỏ ngộ đường lối chỉ bảo cho đường đi lối bước. Đó gọi là GIÁO, "tu ĐẠO chi vị GIÁO" (tu dưỡng theo ĐẠO gọi là GIÁO).
ĐẠO này gọi là đạo Trung Dung, là giữ gìn lấy TÍNH (không thiên lệch, thiên vị), và nếu nó đã bị khuất lấp thì hãy quay trở về với TÍNH, nói cách khác là giữ lấy cái tâm KHÔNG phân biệt. Và nếu đã "khởi tâm phân biệt" thì hãy trở về với "tâm KHÔNG phân biệt". Tâm KHÔNG phân biệt là tâm không bị phân hai, bên yêu bên ghét (không nhị nguyên, tức là "bất nhị", nói theo từ ngữ của Phật giáo), không thiên lệch bên nào, mà giữ quân bình ở giữa (ví dụ giữa TA và NGƯỜI: thường thì ai cũng thiên lệch yêu TA hơn NGƯỜI, đó là tâm phân biệt, nếu sửa lại là yêu NGƯỜI như yêu TA thì không thiên lệch nữa mà là giữ được sự bình đẳng giữa hai bên). Đó là ý nghĩa chữ TRUNG của đạo Trung Dung. Không thiên lệch thì không còn tranh giành xung đột, không hơn/thua, được/mất, không mừng/giận, buồn/vui (mà có một hạnh phúc khác hẳn là không bị vướng mắc với những được/bất hơn/thua)... đó là an bình, là hạnh phúc lâu dài, bất kể thời gian xưa/nay, bất kể không gian đông tây nam bắc, nên cũng là chân lý, và chân lý thì không thay đổi. Không thay đổi là nghĩa chữ DUNG. Người viết dựa theo lời của Trình Tử (Trình Di) mà suy luận như thế.
Ông Chu Hi mượn lời Trình Tử [1] đề tựa đề cho sách "Trung Dung Chương Cú", giải nghĩa TRUNG và DUNG, như sau:
"bất thiên chi vị TRUNG; bất dịch chi vị DUNG. TRUNG giả, thiên hạ chi chính đạo, DUNG giả, thiên hạ chi định lý." : Tâm không thiên lệch bên này, bên kia, mà giữ được mức giữa thì gọi là TRUNG; không thay đổi gọi là DUNG. TRUNG là chính đạo mà tất cả mọi người đều phải noi theo; DUNG là cái lý định sẵn cho tất cả mọi người.
Và ông Chu Hi cũng chú giải thêm "Vô sở thiên ỷ, cố vị chi TRUNG" [4] - không hề thiên lệch, nên gọi là TRUNG
Giải thích của hai ông Chu Hi và Trình Tử cũng dựa vào lời đức Khổng Tử, và làm rõ nghĩa hơn ra mà thôi. Trích hai câu đức Khổng Tử nói về chữ TRUNG để đối chiếu :
(1) "Hỉ nộ ai lạc chi vị phát vị chi TRUNG" (TD.1): mừng/giận buồn/vui khi chưa phát ra thì gọi là TRUNG.
So với định nghĩa chữ TÍNH của ông Chu Hi "hỉ nộ ai lạc, tình dã; kỳ vị phát TÍNH dã" (mừng giận buồn vui.... khi chưa phát ra gọi là TÍNH), thì chữ TRUNG cùng nghĩa với chữ TÍNH;
Lại so với giải thích về TRUNG của Trình Tử "bất thiên chi vị TRUNG" (tâm không thiên lệch gọi là TRUNG), thì TÍNH cũng là tâm không thiên lệch.
như vậy, vì "Thiên mệnh chi vị TÍNH" nên Thiên mệnh có thể hiểu là mệnh lệnh của Trời là mọi người phải giữ tâm không thiên lệch, là bản tính (TÍNH) Trời ban cho từ thuở ban đầu.
Tâm KHÔNG phân biệt cũng là tâm không thiên lệch, nên Thiên tính cũng là tâm KHÔNG phân biệt vậy.
(2) trong TD.10, cũng có nói "TRUNG lập nhi bất ỷ" (Giữ TRUNG thì không thiên lệch), sánh với câu của Trình Tử "TRUNG giả, thiên hạ chi chính đạo" (TRUNG là con đường ngay mà tất cả mọi người đều phải theo). Vậy TRUNG là con đường (đạo) mà tất cả mọi người phải theo là giữ gìn cho tâm không thiên lệch, và nếu đã thiên lệch thì tu sửa là để trở về cái bản tính (TÍNH) là không thiên lệch, cũng là trở về với tâm KHÔNG phân biệt. Đó là đạo Trung Dung .
Tâm không phân biệt là không phân biệt TA / NGƯỜI (mở rộng ra là chúng sinh, vạn vật bên ngoài, nhưng con NGƯỜI là gần gũi nhất, nên ở đây chỉ nhắm tới tâm không phân biệt TA/NGƯỜI trước tiên), không yêu TA hơn NGƯỜI, mà hoà đồng, đối đãi như nhau, vì người cũng như vì ta, yêu người cũng như yêu ta, người với ta như là "một" [3] , do đó tình cảm "ghét" sẽ mất đi nên chữ "ghét" sẽ không còn, không còn so sánh để phân biệt nữa, thành ra "không yêu/không ghét (nhưng cái bản nhiên của tình yêu vẫn còn đó không cần diễn tả). Đó cũng là ý của ông Tăng Xán, tam tổ thiền tông của Phật giáo, mở đầu cho bài Tín Tâm Minh:
Chí ĐẠO vô nan, duy hiềm giản trạch. (đạo lớn không khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó)
Đản mạc tăng ái động nhiên minh bạch. (Chỉ đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch)
Thế thì ĐẠO của tổ Tăng Xán (đạo Phật), cũng là đạo Trung Dung, là trở về với tâm không phân biệt.
Không phân biệt thì dung hoà được hai bên vì không thiên lệch bên nào cả, đó là nghĩa chữ HOÀ trong đạo Trung Dung:
"Hỉ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi TRUNG. Phát nhi giai trúng tiết, vị chi HÒA. TRUNG dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. HOÀ dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí trung hoà, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên" (TD.1): Mừng giận buồn vui chưa khởi phát ra thì gọi là TRUNG. Khi đã khởi phát mà giữ đúng đường (hợp với đạo) thì đó gọi là HOÀ. TRUNG là gốc lớn của mọi người, HOÀ là đạo lý của mọi người. Gắng đạt tới mức TRUNG HOÀ thì mọi người và vạn vật được an bình (vì khi không thiên lệch mà hoà đồng thì không còn tranh giành xung đột thì mọi người mọi vật được an bình)
Ông Chi Hi cũng giải thích chữ HOÀ : "vô sở quai lệ cố vị chi HOÀ" - không trái nghịch (mà hoà đồng) với nhau gọi là HOÀ [4]. Như vậy TRUNG với HOÀ cùng mang ý nghĩa: con người đối với nhau không phân biệt và thiên lệch mà hoà đồng với nhau như "một".
Không phân biệt mà hoà đồng với người như "một", vì người như vì ta, yêu người như yêu ta, nói thì đơn giản nhưng thực sự là khó khăn tới mức không tưởng. Thế nên đức Khổng Tử mới nhận định rằng :
- Chỉ bậc quân tử mới giữ được đạo trung dung, còn tiểu nhân (phàm phu) thì phản trung dung (TD.2)
- Đạo trung dung thật cao viễn, đã lâu rồi ít ai thi hành được. (TD.3)
- Đạo chẳng thi hành được, ta biết vậy rồi: Ấy là vì người trí thì thái quá, còn kẻ ngu thì chẳng kịp. Đạo chẳng sáng ra được, ta biết vậy rồi: Ấy là người hiền thì thái quá, còn người thường thì không kịp. Người ta ai cũng ăn uống, nhưng biết mùi vị thì chẳng mấy người. (TD.4)
- Đạo có lẽ không thi hành được ! (TD.5)
- Thiên hạ, quốc gia, người ta có thể trị được; tước lộc có thể khước từ không nhận; có thể đạp lên cả gươm giáo; nhưng đạo Trung Dung thì không thể thi hành được.
Yêu bản thân, yêu vợ con, yêu cha mẹ ..., yêu nhà cửa , tiền tài của ta thì còn có thể hiểu, có thể làm, chứ yêu người như yêu bản thân mình không phân biệt, không thiên lệch, thì vô cùng khó... vì còn vướng "cái TA" (cái ngã) và "của TA" to tướng. Cũng có thể cai trị cả thiên hạ, có thể khước từ tước lộc, có thể đạp lên cả gươm giáo,... chỉ vì muốn lưu danh, muốn được người khen là liêm khiết đức dộ..., để chứng tỏ cái dũng của mình với mọi người, tức là còn vương vấn... "cái TA" to tướng, là còn phân biệt, là xa Đạo. Nên, Đạo có lẽ không thi hành được là vậy. Thành ra vẫn tranh giành, vẫn xung đột vì cái TA, vẫn được/mất, hơn/thua,... Và mừng/giận buồn/vui vẫn phải dựa trên hơn/thua được/mất, mà bỏ quên "niềm vui thực và lâu bền" là không vướng mắc không phụ thuộc vào được/mất hơn/thua. Tuy khó, nhưng đã thấy thì cũng chỉ dạy: đó là những lời khác trong kinh sách của đức Khổng Tử , vừa giảng lý lẽ vừa dẫn chứng những gương hiền nhân, ác nhân xưa để hướng dẫn người ta (đó là GIÁO) trở về với TÍNH (là ĐẠO), cũng là trở về với tâm không phân biệt.
Thực ra, cái cùng tột của ĐẠO mới là khó, chứ nếu thu lại thì nó đã tiềm tàng nơi mỗi con người rồi: vợ chồng yêu thương nhau, hay người mẹ người cha yêu thương con mình ... như yêu bản thân mình, có thể hi sinh cả bản thân cho đối tượng mình yêu thương, đó là cái ẩn tàng của "tâm không phân biệt" trong nội tâm của mỗi con người, không ai là không có tiềm tàng một tình yêu. Nhưng lấy đó làm mẫu mực để mở rộng ra tới mức "yêu NGƯỜI như yêu bản thân mình" không phân biệt, không thiên lệch về TA, thì đó là cái rộng lớn mênh mông của ĐẠO, đến thánh nhân cũng chưa hẳn đã tiến tới cái tột cùng đó. Đó là ý nghĩa của chương 12 trong sách Trung Dung:
"Đạo quân tử rộng lớn mênh mông mà cũng ẩn nhẹm hết sức. Dẫu cho hạng ngu phu ngu phụ trong xã hội cũng dự biết chút ít về đạo ấy. Mà biết cho cùng tột, ví dầu là Thánh nhơn cũng chẳng biết hết cho nổi.....
".... Kinh thi rằng: ' Diều bay trời cao; cá lặn vực thẳm'. Câu ấy có ý nói rằng Đạo Trung Dung xuất hiện ở mọi nơi, từ chỗ rộng lớn đến chỗ ẩn nhẹm, từ người cao thượng đến kẻ thấp hèn.
"Đạo quân tử, chỗ phát khởi thì tầm thường lắm: Nó ở nơi tâm ý của kẻ ngu phu ngu phụ ; mà chỗ chí cực của Nó lại là cao siêu, bao quát: Nó soi sáng tất cả trời đất" (TD.12: trích dịch giải của Đoàn Trung Còn). Có người dịch giải câu này nôm na hơn, là: "Đạo của người quân tử bắt đầu từ mối tình chồng vợ, và đến chỗ tột cùng thì bao trùm cả trời đất".
Kể từ chương 13 trở đi, là những hướng dẫn để noi theo Đạo mà đi, mà căn bản và tổng quát nhất chính là chương 13, ý nói, thực hành được điều sau đây là cận kề bên ĐẠO rồi : "Điều gì mình không muốn người khác làm cho mình, chớ đem điều ấy mà làm cho người" (Trung thứ vi Đạo bất viễn. Thi chư kỷ nhi bất nguyện, diệc vật thi ư nhân), hay nói cách khác "điều gì mình muốn người khác làm cho mình, thì hãy điều ấy làm cho người", đó là hướng đi tới ĐẠO, thực hành được như thế là đã cận kề với ĐẠO rồi. Đơn giản thế nhưng cũng đầy khó klhăn và chông gai, đến đức Khổng cũng có lúc phải nhận là mình chưa làm được:
"Đạo của người quân tử có bốn điều, Khâu tôi chưa làm được một:
- Điều gì mình yêu cầu ở con, thì mình đem điều đó thờ bố. Điều này tôi chưa làm được.
- Điều gì mình yêu cầu ở người thuộc hạ, thì mình đem điều đó mà thờ vua. Điều này tôi chưa làm được.
- Điều gì mình yêu cầu ở em, thì đem điều đó mà thờ anh. Điều này tôi chưa làm được.
- Điều gì mình yêu cầu ở bạn bè, thì mình đem điều ấy mà thực hiện trước cho bạn bè mình. Điều này tôi chưa làm được." (TD.13)
Mới chỉ những bước đầu tiên là đối với những người gần gũi nhất đã khó thế, huống hồ gì mở rộng ra tới tất cả mọi người không phân biệt.
Nhưng bước đầu tiên tuy chưa làm được cũng không có nghĩa là không làm được, tùy theo ý chí mỗi người. Năm 1979, Mẹ Teresa, một vị nữ tu Kitô giáo nổi tiếng về lòng từ thiện, được trao tặng giải Nobel hoà bình; trong ngày nhận giải thưởng này, trả lời câu hỏi "Chúng ta có thể làm gì để thăng tiến nền hoà bình thế giới?", bà nói: "Hãy về nhà và yêu thương chính gia đình mình."
Lời khuyên về sự khởi đầu như thế cũng giống như khởi đầu nơi đạo Trung Dung, bắt đầu từ mối tình chồng vợ, tình yêu cha me và con cái, tức là yêu thương chính gia đình mình... Có thực hiện được bước đầu ấy mới có thể mở rộng tới cái tột cùng. "Đạo của người quân tử ví như đi đường xa, tất phải bắt đầu từ chỗ gần; ví như leo lên đỉnh núi, tất phải bắt đầu từ chỗ thấp. Trong nhà vợ con hòa hợp như đàn cầm đàn sắt; huynh đệ hòa thuận, vui vẻ ; gia đình được như thế, vợ con an lạc ...". (TD.15). An lạc từ gia đình, yêu mọi người trong gia đình như yêu mình, rồi từ mẫu mực đó mới có thể mở rộng dần ra "yêu mọi người như yêu bản thân mình", tạo thành sự hoà hợp và bình an trong cả thiên hạ, tức là "bình thiên hạ". Đạo Trung Dung... chỉ là vậy!... Tuy chỉ vậy nhưng mà khó... Khó mới cần tới Đạo!
Trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Phật Giáo đại thừa, ghi lại lời tổ thứ sáu của thiền tông là Huệ Năng (Phẩm 3. Nghi Vấn) cũng nói rằng "tâm bình đẳng" và "hạnh thẳng ngay" (tâm bình, hạnh trực) là cái đích của Đạo, và con đường tu đạo cũng khởi đầu từ trong nhà, từ những người gần gũi, là yêu thương cha mẹ, tương kính anh em, hoà mục trên dưới.....:
"Tâm bình đẳng (bất nhị) chẳng nhọc trì giới,
Hạnh thẳng ngay (bất nhị) đâu cần tu thiền.
Báo ân là nuôi dưỡng cha mẹ,
Nhân nghĩa thì già trẻ thương nhau.
Khiêm nhường thì sang hèn hoà thuận...........".
(lời dịch giải của tỳ kheo Thích Duy Lực)
Tâm bình đẳng, hạnh thẳng ngay là không thiên lệch đối đãi mà bình đẳng giữa con người với nhau không phân biệt, là tâm bất nhị là Phật tánh, cũng chính là đạo quả "Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác" (không phân biệt cao thấp, tuyệt đối bình đẳng, đó là giác ngộ chân chánh) nói trong Kinh Kim Cương ./.
DUY ĐỨC
Jan/22/2012
GHI CHÚ:
[1] Đức Khổng Tử sinh năm -551 mất năm -478, ông Tử Tư: -483 -- -402, ông Trình Di: 1033 -- 1107, ông chu Hi: 1130 -- 1200. Ông Chu Hi tôn ông Trình Di là bậc thầy nên lấy lời ông này đề tựa cho "Trung Dung Chương Cú". Tư tưởng của ông Trình Di về Nho giáo chắc phải cao lắm nên mới có thành ngữ "cửa Khổng, sân Trình".
[2] Hiểu là "bản tính" hay "bản tâm" hay "chân tính" hay "chân tâm" thì rõ nghĩa hơn, vì chữ "tính" thường được dùng ghép với các tình cảm thông thường, ví dụ: "cô ấy có tính hay ghen tỵ, bà ta có tính hay giận, ông kia có tính hẹp hòi..." , những chữ "tính" này không mang nghĩa TÍNH nói trong Trung Dung. Bản tính là tính Trời ban cho từ ban đầu, trong bài này tạm viết là TÍNH.
[3] Trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử cũng phảng phất tâm phân biệt, ví dụ: "Trời đất cùng sinh ra với tôi; vạn vật cùng tôi hợp nhất, chỉ là một...... Cái "nhất" đó thêm cái "TA" nói về nó, thế là hai cái rồi; hai cái đó với cái "nhất" (nguyên thủy) thành ra là ba. Cứ như vậy...." (Nội Thiên.II.7, trích lời dịch giải của học giả Nguyễn Hiến Lê)
[4] "Chu tử viết: Hỉ nộ ai lạc, tình dã. Kì vị phát tắc tính dã. Vô sở thiên ỷ, cố vị chi trung. Phát giai trúng tiết, tình chi chính dã. Vô sở quai lệ, cố vị chi hoà. Đại bản giả: Thiên mệnh chi vị tính. Thiên hạ chi lý, giai do thử xuất, đạo chi thể dã. Đạt đạo giả tuần tính chi vị. Thiên hạ cổ kim sở cộng do. Đạo chi dụng dã"