TÂM KHÔNG PHÂN BIỆT
và VƯƠNG DƯƠNG MINH.
-------

(1) Không thiện không ác là cái bản thể của tâm.   (Vô thiện vô ác thị tâm chi thể).
(2) Có thiện có ác là cái động của ý.  (Hữu thiện hữa ác thị ý chi động).
(3) Biết thiện biết ác là lương tri. (Tri thiện tri ác thị lương tri).
(4) Làm thiện bỏ ác là cách vật. (Vi thiện khử ác thị cách vật).

Bản thể của tâm (bản tâm, bản tính, hay đơn giản là TÍNH), là gì?

"Bản thể của tâm là lẽ Trời, sự nhận biết lẽ Trời một cách phân minh, sáng suốt là lương tri" - (Tâm chi bản thể tức Thiên lý dã, Thiên lý chi chiêu minh linh giác sở vị lương tri dã)

Những câu trên đây là căn bản của học thuyết của ông Vương Dương Minh (1472-1529), thường được gọi là "Trí Lương Tri", làm sáng tỏ thêm về cái lý của ĐẠO Trung Dung của đức Khổng Tử "Thiên mệnh tri vị tính; suất tính chi vị đạo; tu đạo chi vị giáo". Xin được giải thích về "Trí Lương Tri" của ông Vương Dương Minh, dưới đây .

*
*     *

1.-THIỆN và ÁC. nguyên nhân của cái ÁC.

Khi con người có yêu/ghét, thì có tranh giành để được cái mình yêu thích, muốn được thì phải mưu tính để hành động, nếu cần thì loại bỏ kẻ địch, từ đó cái ÁC [1] phát sinh. Từ đâu mà có yêu/ghét? 

Ai cũng có một cái TA vĩ đại, tách rời khỏi mọi người ngoài, và luôn coi trọng (cái TA) hơn là người khác. Đó là lòng vị kỷ, cũng là tâm phân biệt TA/NGƯỜI. Cái gì, điểu gì thuận với TA thì ta yêu thích, nếu chẳng thuận thì ta ghét. Như vậy lòng yêu/ghét phát xuất từ tâm vị kỷ hay tâm phân biệt TA/NGƯỜI. Lấy ví dụ, trong kinh Viên Giác, đức Phật giải thích về yêu/ghét như thế: "Do có vô minh từ khởi thủy, lấy cái TA (vị kỷ) làm chủ tể, tất cả chúng sanh sanh ra không có tuệ giác, nên thân tâm đều vô minh như vậy. Ví như có người không thể tự đoạn thân mình, thì rõ là do lòng yêu TA mà ra; điều gì tùy thuận TA thì yêu thích, nếu chẳng tùy thuận thì oán ghét..."

Nhưng từ đâu mà sinh ra cái TA vị kỷ ? - cũng chưa rõ nét, đức Phật cũng chỉ nói một cách chung là do vô minh, không sáng, không rõ, mà sinh ra yêu/ghét.

Và từ yêu/ghét dẫn tới cái ÁC là bước ngắn. Quan sát một đứa trẻ thơ thì ai cũng cảm thấy là nó thiện, nghĩa là nó chưa có tính ÁC, và tưởng tượng tới con người đầu tiên (lấy ví dụ ông Adam) thì hẳn cái tâm cũng giống như thế, nên ta có thể tạm coi cái bản tâm của con người vốn không ÁC. Thiện và ác là một cặp nhị nguyên phân biệt nên nếu không có ác thì cũng chẳng có ý niệm thiện, nghĩa là bản tâm con người vốn không thiện không ác. Lão Tử, trong Đạo Đức Kinh, cũng nói rằng "khi thiên hạ đã biết cái thiện là thiện, thì đã có cái ác rồi". Ông Vương Dương Minh nói về cái ý ấy như sau:

2.- Trí LƯƠNG TRI.

(1) "Không thiện không ác là cái bản thể của tâm"
và cho rằng "cái bản tâm ấy chính là lẽ Trời" - (Tâm chi bản thể tức Thiên lý dã).

Như vậy,

Không thiện không ác là cái bản tâm, hay bản tính (TÍNH) của con người. Cái TÍNH ấy là do Trời phú cho con mỗi con người [2] , là  mệnh Trời; hay nói cách khác, "mệnh Trời là TÍNH, và khi chưa khởi tâm phân biệt thiện/ác thì đó là TÍNH", giống như cách diễn giải ĐẠO Trung Dung của Khổng Tử: "Mệnh Trời là TÍNH" , và "khi chưa khởi phát mừng/giận buồn/vui thì đó là TÍNH" [3] . Cái TÍNH ấy là ĐẠO Trời 

(2) "Có thiện có ác là do cái động của ý".

TÍNH vốn không thiện/ác, không mừng/giận, chẳng buồn/vui . Nhưng cái TÍNH ấy biến mất dần để rồi sinh ra mừng/giận, buồn/vui, thiện/ác như mọi người trong thế gian đều có đủ (ngoại trừ trẻ thơ khi chưa biết cười). Đó là do ảnh hưởng của trần cảnh tác động vào tâm trí mà ông Vương dùng chữ "ý", "Có thiện có ác là sự động của ý" . Có yêu/ghét nên thiện/ác, mừng/giận, buồn/vui... phát sinh, đồng nghĩa với phiền não phát sinh, và sự bình an trong tâm hồn của thuở ban đầu (như trẻ thơ) không còn nữa: ĐẠO đã mất.

(3) "Biết thiện biết ác là LƯƠNG TRI"

Yêu/ghét tức tâm phân biệt, đưa tới tranh giành xung đột, mới sinh ra hơn/thua, được/mất, mừng/giận buồn/vui, thiện/ác... Đó là phiền não khiến đời sống con người mất đi sự bình an. Trong thế giới tranh giành xung đột ấy, con người không nề hà làm mọi chuyện miễn sao đạt được lợi cho chính mình, do đó mà thiện ác [1] lẫn lộn. Đó là thế gìới của thiện/ác, của đau khổ, của bất an. 

Để loại trừ cái khổ đau ấy, ông Vương Dương Minh nhận định rằng: Tuy cái TÍNH Trời cho vốn không thiện không ác, nhưng khi cái TÍNH đã mất (cũng nghĩa là ĐẠO đã mất), thì thiệ/ác đã lẫn lộn, mà muốn trở về với TÍNH theo Thiên mệnh, thì trước hết phải biết phân biệt cho phân minh thiện và ác (để bỏ ác mà làm thiện), điều này ông gọi là LƯƠNG TRI. Đó là ý nghĩa của câu số (3) "Biết thiện biết ác là LƯƠNG TRI" : Trong thế giới thiện ác lẫn lộn, có phân biệt phân minh được thiện ác thì đó là người có LƯƠNG TRI, là hiểu lẽ Trời. Vì theo ông "Hiểu lẽ Trời một cách phân minh sáng suốt, đó là LƯƠNG TRI (Thiên ý chi chiêu minh linh giác sở vị LƯƠNG TRI dã)".

(4) "Làm thiện bỏ ác là cách vật."

Khi đã biết phân minh thiện ác rồi thì phải làm thiện bỏ ác để trở về với ĐẠO theo Thiên mệnh, (giống như trình tự Văn - Tư - Tu, trong Phật giáo). Người bỏ được cái ác và chỉ làm thiện thì tâm hồn thơ thái cho riêng mình, nhưng nói chung cái ác vẫn còn tồn tại trong thế gian, nên dĩ nhiên là phải vận động mọi người cùng bỏ ác làm thiện như thế, thì sẽ tới ngày cái ác sẽ bị xoá bỏ , và thiên hạ sẽ bình an hay là "bình thiên hạ". Làm thiện tránh ác theo ông là nghĩa cách vật . Và khi toàn bộ cái ác bị xóa bỏ thì chữ thiện cũng sẽ bị quên lãng (tuy cái toàn thiện vẫn ngự trị) khi đó là con người đã trở về với ĐẠO, đạt ĐẠO, tức là trở về với cái bản tâm hay TÍNH không thiện/không ác ban đầu.

3.- ĐẠO và đạo:

Ta nói "đạo" khi đề cập đến một tôn giáo (ví dụ "đạo Khổng") là ý muốn nói cái đường đi (đạo) được hướng dẫn bởi hệ thống giáo lý (giáo) riêng của tôn giáo đó (ví dụ "khổng giáo"), để người ta đi tới một cái đích coi như chân lý. Cái đích ấy tạm gọi là ĐẠO (có thể có tên khác với các tôn giáo khác nhau)

Vậy khi nói tới chữ đạo, xin tạm phân chia ra làm hai: 1/ "ĐẠO", chữ viết HOA, là cái đích cuối cùng, là chân lý, và 2/ "đạo" là con đường dẫn tới ĐẠO. Lý thuyết vạch ra để thấy con đường, là "giáo" hay giáo lý của cái đạo.

Ý "ĐẠO" và "đạo" trong học thuyết của Vương Dương Minh:

ĐẠO:
(1) "Không thiện không ác là cái thể của tâm" - bản tâm con người vốn không thiện không ác, đây là ĐẠO, là mệnh Trời.
(2) "Có thiện có ác là cái động của ý" - đây là ĐẠO bị che lấp, ĐẠO bị mất.

Đạo:
Khi ĐẠO đã mất, thì theo mệnh Trời phải tìm đường (đạo) trở về với ĐẠO.
(3) "Biết thiện biết ác là lương tri" - đây là lý lẽ của chánh đạo
(4) "làm thiện bỏ ác là cách vật" - đây là hành đạo, để trở về với ĐẠO

Là người của Nho giáo, hẳn nhiên đối với ông Vương Dương Minh, "NHÂN, nghĩa, lễ, trí, tín..., thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia v.v..." cũng là "đạo", là những phương cách để giúp bỏ ác mà làm thiện, và quay trở về với ĐẠO.

4.- CÁCH VẬT TRI TRI.

Đạo của đức Khổng Tử có cái đích cuối cùng là "bình thiên hạ". "Bình" là bằng nhau, ngang nhau, không thiên lệch, không phân biệt, bình đẳng, đồng đều, an bình, an hoà, hoà bình, thái bình... giữa con người với nhau trong thiên hạ. Khi ấy, TA cũng như NGƯỜI, NGƯỜI cũng như TA, không phân biệt, "điều gì TA không muốn NGƯỜI làm cho mình, thì TA chớ làm điều ấy cho NGƯỜI", hay "điều gì muốn NGƯỜI làm cho TA hãy làm điều ấy cho NGƯỜI", "yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA"..., do đó mà không tranh giành, không chiến tranh, không được/mất hơn/thua, nên chẳng có mừng/giận buồn/vui (vì được/mất hơn/thua), nên cũng không có cái ác (không có ác thì cũng không có phân biệt thiện/ác). Đấy là ĐẠO.

Trong sách Đại Học nói rằng, muốn "bình thiên hạ" thì trước phải "trị kỳ quốc"; muốn trị kỳ quốc, thì trước phải biết "tề kỳ gia",... "tu kỳ thân";... "chánh kỳ tâm";... "thành kỳ ý"; muốn thành kỳ ý thì trước phải "TRÍ kỳ TRI" [4] ; TRÍ TRI tại CÁCH VẬT.

Thế nào là "trí tri tại cách vật" ?

"Trí tri tại cách vật" cũng có khi được nói gọn là cách vật trí tri, thường được giải nghĩa là "tìm tòi nghiên cứu cái nguyên lý của sự vật mà suy ra cái tri thức cùng cực" (tự điển Đào Duy Anh), và còn gọi tắt là cách trí. Nhưng sư vật trong vũ trụ này thì bao la, con người thì nhỏ bé, tuy khoa học có tiến bộ nhưng cũng chẳng làm sao mà hiểu hết được tường tận nguyên lý của mọi sự vật. Một nhà trí thức khoa học có thể biết được chút đỉnh, nhưng một bà nhà quê thì làm sao mà cách vật trí tri cho được, như vậy thì làm sao mà thành kỳ ý, chánh kỳ tâm, tu kỳ thân... nói chi tới bình thiên hạ.

Thế nên ông Vương Dương Minh suy theo đường khác: "trí tri tại cách vật" cũng là tìm hiểu tới tận cùng mọi sự vật nhưng trong trong một cái... vũ trụ khác. Đó là cái TÂM của con người, hay là cái tiểu vũ trụ.

Sự vật trong cái tiểu vũ trụ ấy nó sinh hoá như thế nào?

Khởi đầu tâm con người nó trống KHÔNG (không thiện/ác, không mừng/giận buồn/vui,...  là cái bản thể của tâm, gọi là ĐẠO); thế rồi dưới tác động của ngoại giới con người thâu lượm qua các giác quan, -- ĐẠO bị khuất lấp, vì sự phát sinh cái TA tách biệt khỏi đại khối , đó là tâm phân biệt (gần gũi nhất là phân biệt TA/NGƯỜI).

Từ tâm phân biệt sinh sôi nảy nở cơ man là sự và vật... như yêu/ghét, đẹp/xấu, giàu/nghèo,... rồi tranh giành, được/mất, hơ/thua, mừng/giận, buồn/vui, ác/thiện, tham lam, sân giận, si mê, ân/oán, khinh/trọng, thân/sơ,... giả dối, cong quẹo, cố chấp, tự cao, xảo quyệt..., mưu mô, tính toán, nham hiểm,  trộm cắp, giết người, cướp của, đâm chém, thù hằn, dao to, súng lớn, phi cơ, đại bác, bọm đạn, nguyên tử,.... kiêu căng, ganh tị,... thất tình, tự tử, ghen tương...  tạt át xít, vào tù, ra khám, tử hình... ham sống, sợ chết, thần linh, qủy dữ, đồng bóng,... muôn vàn cơ man sự và vật sinh sinh hoá hoá trong thế gian ai cũng thấy. Đó là cái thế gian bất an và đầy đau khổ của con người. Nói về sự sinh hoá ấy, nhà Phật có câu rằng "nhất thiết duy tâm tạo" là vậy. Và, Lão Tử trong Đạo Đức Kinh viết rằng: "ĐẠO sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật" (ĐĐK.42). Và, trong Nam Hoa Kinh, chương Tề Vật Luận, Trang Tử giải thích rộng hơn về sự sinh hoá ấy: "... Trời đất cùng sinh ra với TÔI, vạn vật và TÔI hợp nhất, chỉ là một. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao nói về nó được nữa. Vũ trụ đã hợp nhất thì làm sao không nói về nó được [ lúc này chưa phân biệt ]. Cái "nhất" đó thêm cái TA nói về nó, thế là có hai cái rồi [ đã khởi tâm phân biệt ]; hai cái đó với cái "nhất" (nguyên thủy) thành ra ba. Cứ như vậy mà tính tiếp thì người giỏi tính cũng thành chịu, huống hồ là người thường. Như vậy là từ "không" (vô) tới "có" (hữu) đã có ba ý khác nhau eồi; huống hồ từ "có" tới "có" sẽ có cơ man nào là ý..." (dịch giải của học giả Nguyễn Hiến Lê).

Trí tri tại cách vật theo ông Vương Dương Minh, là tìm hiểu cặn kẽ cái gốc gác, căn nguyên nhựng sự vật đã sinh hoá nơi tâm của con người gây thành những lộn xộn, bất an, hay khổ đau, khiến thiên hạ không thể bình được. Biết để mà trừ. Và ông tóm tắt "Làm thiện bỏ ác là cách vật". Như vậy "cách vật" mang ý nghĩa lìa bỏ, chống lại [4] sự cám dỗ... của sự vật bên ngoài, cũng là lìa bỏ lòng tư dục. Lìa bỏ lòng tư dục là lìa tham sân si, là lìa cái ác. Vậy lìa bỏ ác mà làm thiện là cách vật. Đó hẳn là ý nghĩa về tâm học của "cách vật trí tri" của ông Vương Dương Minh.

5.-Chuyện bàn thêm thay lời kết:

Vũ trụ và con người cùng sinh ra hợp nhất,  như MỘT, (tức bất nhị hay không hai). Con người là một bộ phận vốn không chia lìa của cái NHẤT đó, tuy hình dạng, công năng có khác nhưng là MỘT. Giống như một cơ thể, mà tay chân, đầu óc, tai mắt, mũi, miệng.... là những bộ phận tuy hình dạng, công năng có khác nhưng vẫn là MỘT, phục vụ chung cho MỘT cơ thể, không mang tính phân biệt chia lìa (hơn/thua, tốt/xấu, ganh ghét, kiêu ngạo...). Ví như một chân bị nạn thì chân còn lại cáng đáng công việc của chân bị nạn, không chút so đo. Nếu cần thì hai tay cùng chân bò để cơ thể di chuyển, không than vãn, chẳng tị hiềm, ... và đồng thời đầu óc, mắt, tai, mũi miệng... tùy khả năng mà tham gia cáng đáng, giúp đỡ cho bộ phận bị nạn. Tất cả hợp thành MỘT khối duy nhất không chia lìa, "huynh đệ như thủ túc", "tứ hải giai huynh đệ".

Cũng như thế, khởi đầu con người (tiểu ngã) cũng như tay chân hay mắt tai... trong cái cơ thể vũ trụ (đại ngã) như vậy. Và giữa NGƯỜI với NGƯỜI với nhau cũng vậy là MỘT cơ thể duy nhất. Thế rồi cái TA, cái NGÃ tách rời ra khỏi cái đại NGÃ, để rồi phân biệt TA/NGƯỜI (phân HAI, tức nhị nguyên), với sự thiên lệch nghiêng hẳn về cái TA, đó là lòng vị kỷ. Thế là có yêu/ghét, có ganh tị, tranh cạnh, có hơn/thua, được/mất, rồi hỉ/nộ, ai/lạc, rồi thiện/ác và v.v... Cái MỘT đã mất để biến tành HAI, và 2 ->3 - 5 -> 10 ... cứ thế sinh xôi nảy nở biết cơ man nào sự và việc , tạo thành một thế giới thiện/ác của bất an và đau khổ.

Con đường (đạo) là trở về với cái NHẤT (ĐẠO) không phân biệt, bình yên ban đầu, chính là làm thiện bỏ ác. Khi ác được diệt trừ thì con người trở về với ban đầu là không thiện/ không ác. Nhưng cũng có sự khác biệt đáng kể giữa cái ban đâu và sự trở về: bản tâm không thiện/không ác vốn chưa từng trải qua những đau khổ của thế giới thiện/ác nên dễ bị sinh tâm phân biệt, giống như ông Adam và bà Eva dễ dàng sa ngã vì lợi dụ dỗ của con rắn (tượng trưng cho cám dỗ của của ngoại vật, ngoại cảnh...) để biết phân biệt thiện/ác. Nhưng nếu con người đã từng kinh nghiệm về đau khổ qua thế giới thiện/ác rồi, mà kiên tâm diệt trừ cái ác để trở về với bản tâm không thiện/không ác, thì khi đã trở về được rồi, sẽ không để tái sinh trở lại cái ác nữa. Không tái sinh thì cũng không diệt, hẳn là nghĩa thoát khỏi vòng sinh/diệt vậy ./.

Duy Đức
May/20/2012

GHI CHÚ:

[1] ÁC, không nhất thiết là phát xuất ra hành động rồi mới gọi là ÁC. Chỉ cần có ý ác, có lời nói ác, hay một cách rộng rãi hơn nữa khi mang tính vị kỷ là đã tiềm tàng cái ác  rồi, như định nghĩa của hoà thượng Trung Phong "làm việc gì mà chỉ vì mình là ác, còn làm việc gì vì người là thiện"

[2] Thiện/ác do yêu/ghét mà ra. Có yêu/ghét thì có tranh giành nên có hơn/thua, được/mất. Có hơn/thua, được/mất thì đưa tới có mừng/giận, buồn vui. Như vậy thiện/ác, mừng/giận, buồn/vui là do cùng một gốc là yêu/ghét. Yêu/ghét lại từ tâm phân biệt TA/NGƯỜI mà ra. Nếu chưa khởi tâm phân biệt TA/NGƯỜI thì thiện/ác, mừng/giận, buồn/vui cũng chưa phát khởi, thì đó là TÍNH do Trời ban cho con người, tức là "Thiên mệnh chi vị TÍNH" vậy.

Nếu so sánh với những câu nói về ĐẠO Trung Dung:

-- "Thiên mệnh chi vị TÍNH" (TD.1)
-- "mừng/giận buồn/vui khi chưa khởi phát là Trung" (TD.1)
-- "mừng/giận buồn/vui khi chưa khởi phát là TÍNH" (Trung Dung Chương Cú - Chu Hi) 

với câu nói của ông Vương Dương Minh

-- "không thiện không ác là bản thể của Tâm" (bản thể của Tâm là bản tâm, bản tính hay nói gọn là TÍNH, là lúc chưa khởi phát thiện/ác)
-- "Cái bản tâm ấy chính là lẽ Trời"

thì thấy là ông Vương Dương Minh chỉ diễn giải rộng thêm cái ĐẠO Trung Dung của đức Khổng Tử mà thôi. Nếu tổng hợp chung, thiện/ác, mừng/giận, buồn/vui do yêu/ghét hay tâm phân biệt mà ra, thì ĐẠO Trung Dung là khi tâm chưa khởi phân biệt. Nếu so sánh với bài "Tín Tâm Minh" của Tăng Xán (tam tổ thiền tông Trung Hoa) lại rất trùng hợp:

"ĐẠO lớn không khó với những ai không phân biệt.
Không còn yêu/ghét thì mọi sự đều sáng tỏ" (lời dịch giải của Dương Gia)

"không phân biệt thiện/ác" cũng được nói tới như là khởi đầu của cái tâm con người (tức bản tâm, bản tính, hay TÍNH), trong các tôn giáo hay nơi các nhà tư tưởng lớn khác, như:

-- Kinh Cựu Ước - sách Sáng thế Ký: Sau khi ông Adam biết phân biệt thiện/ác (vì ăn trái cây biết điều thiện điều ác) thì bị đuổi ra khỏi thiên đàng.
-- Lời đức Phật: " một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện. Phật tánh là tánh không hai (bất nhị).
-- Lời Lã Tử: "Thiện hạ đều biết cái thiện là thiện, thì đã có cái bất thiện rồi" (ĐĐK.2)
-- Huệ Năng: "Điều lành (thiện) điều dữ (ác) tuy khác nhau, chớ cái bản tánh không hai" (Pháp Bảo Đàn Kinh)
-- "Cái tánh tự nhiên của người ta chẳng phân biệt thiện với bất thiện (Nhận định của Cáo Tử ghi trong sách Mạnh Tử - Cáo Tử Thượng.2) 

Ghi chú thêm:

Tâm phân biệt, hay nhị nguyên phân biệt, thường đặt phân biệt TA/NGƯỜI lên hàng đầu, vì TA với NGƯỜI gần gũi đụng chạm tranh chấp với nhau thường xuyên. Nếu mở rộng ra thì có ý niệm phân biệt TA/chúng sanh (như trong Phật giáo), rộng hơn nữa là TA với vạn vật nên ngoài. Trước khi khởi tâm phân biệt nhị nguyên, là nhất nguyên, là TA với NGƯỜI, với chúng sanh, với vạn vật như MỘT, TA chỉ là một bộ phận trong cái MỘT không tách rời phân biệt, ví như một thân thể tuy có nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận tuy có nhiệm vụ khác nhau nhưng không có ý niệm tách rời, không phân biệt, không có yêu/ghét tị hiềm cùng nhau.

[3] - Mệnh Trời là TÍNH,... mừng/giận, buồn/vui khi chưa khởi phát gọi là Trung (TD.1)
     - Mừng/giận, buồn/vui khi chưa khởi phát là TÍNH (Chu Hi)

[4] Trong "Hán Việt Tử Điển Trích Dẫn", chữ "Cách" cũng có nghĩa là "sửa cho ngay", "chống lại, địch lại" hay "đánh, xô xát, vật lộn".

 

 

 



Website powered & layout © by TipTopWebsite.com