ADAM, EVA và Vườn EDEN 
 ─◊─
 
Trang  (1)  (2)  (3)
 
Dù theo hay không theo một tín ngưỡng nào đi nữa, chúng ta cũng có thể cùng tin một điều khá đơn giản rằng:  con người chúng ta đang hiện diện trên trái đất này phải có một sự khởi đầu, tức là vào một lúc nào đó trong qúa khứ có một hay những con người sơ khai được hình thành, và đó là tổ tông của con người chúng ta hiện tại.
 
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, sách Sáng Thế Ký có kể một câu chuyện về con người đầu tiên ấy là ông Adam và bà Eve. Adam và Eve được Thiên Chúa tạo dựng, và đặt họ sống trong vườn Eden hay vườn địa đàng.
 
Nếu bạn không thích cái ý niệm về một vị Thiên Chúa tạo dựng ra vũ trụ và con người, thì bạn có thể tìm một nguyên nhân nào khác đã tạo ra con người đầu tiên,  có thể là Big Bang, có thể là thuyết tiến hoá,... Nhưng tất cả chúng ta phải là hậu duệ của những con người ban đầu ấy mà ta tạm sử dụng tên là Adam cho tiện (chữ Adam vốn mang nghĩa là “con người”). Ở đây người viết không đánh giá câu chuyện có thực hay không, mà chỉ tìm hiểu xem cái ý, cái triết lý tác giả muốn nói trong đó.
 
Cùng với sự hình thành con người, cho dù do Thiên Chúa hay nguyên nhân nào khác, những định luật, những tiến trình tự nhiên chung cho con người và vạn vật cũng kèm theo làm nền tảng cho mọi sinh hoạt của con người cũng như mọi vật, cũng giống như những cái máy điện toán phải cài đặt hệ điều hành trong chúng vậy. Ví dụ lý vô thường, và luật nhân quả là hai luật tự nhiên ta thường thấy nói tới trong tôn giáo; vạn vật hấp dẫn, sức đẩy Archimède... là những định luật vật lý v.v....
 
1.-Adam, Eve và Tâm Phân Biệt.
 
Khởi đầu, con người đầu tiên hẳn chưa có ý niệm gì về thiện hay ác, tưởng tượng thôi nhưng cũng không có gì là phi lý. Đó là "nhân chi sơ, tính bản thiện", và chữ "thiện" này là tượng trưng cho "không thiện không ác", vì lúc đầu chưa có ác nên cũng chẳng có ý niệm thiện.

Ông Adam, tượng trưng con người đầu tiên, khởi đầu hẳn là phải có cái TÂM rất là đơn sơ, vô tư,  hồn nhiên. Để dễ hình dung chúng ta có thể so sánh TÂM Adam lúc đó với cái TÂM của đứa trẻ thơ, nhưng khác với trẻ thơ là Adam có cái TRÍ óc của người lớn.  Adam sống trong vườn Eden một cách đơn giản, thanh thản, hồn nhiên. Lúc đó tâm của ông trống rỗng chưa có những phân biệt về tình cảm như ta-người (yêu TA hơn NGƯỜI),  vui-buồn, giàu-nghèo, ân-oán, thiện-ác, thương-ghét, ganh tị, kiêu hãnh...ngay chuyện sống trần truồng cũng chẳng mảy may ngượng ngùng xấu hổ (vì bấy giờ chưa có ý niệm về xấu hổ như bây giờ). Lúc đó cái tâm của ông là TÂM VÔ PHÂN BIỆT. Cái TÂM đơn sơ, giản dị, thanh tịnh như thế tượng trưng cho TÂM của một người đang ở vườn Eden hay địa đàng. Đó là cái BẢN TÂM của con người. Cho tới khi có thêm bà Eve, rồi con rắn (tượng trưng sự cám dỗ), thì tâm ông Adam cũng bắt đổi khác, đó là TÂM PHÂN BIỆT.

Cho tới ngày nay, bất kỳ ai trong chúng ta cũng mang cái tâm phân biệt, phân biệt  ta-người (yêu ta hơn người), thiện-ác, giàu-nghèo, ân-oán, thương-ghét, sướng-khổ  ... và con người càng phát triển, nhân số càng đông, chung đụng càng nhiều thì sự phân biệt cả về TRÍ và TÂM lại càng rộng mở thêm.
 
Như vậy, về mặt tâm thức, TÂM con người ở một trong hai thế giới khác biệt nhau: Một bên là "thế giới không thiện/không ác" (giống như tâm ông Adam trưóc khi biết phân biệt thiện/ác) và một bên là "thế giới có thiện/có ác". Ngăn cách giữa hai thế giới đó là "tâm phân biệt Nhân/Ngã" (hay "duy ngã độc tôn", nhóm từ dùng trong Phật giáo).
 TamPhanBiet.jpg TamPB picture by oanhs
 
Từ cái TÂM VÔ PHÂN BIỆT của Adam và Eve ban đầu, chuyển thành cái TÂM PHÂN BIỆT của chúng ta như ngày nay, thì hẳn phải có một lúc nào đó trong quá khứ có một biến cố tạo ra sự biến đổi đó, ta gọi đó là lúc KHỞI TÂM PHÂN BIỆT, không biết thực sự là lúc nào, nhưng để tượng trưng cho biến cố ấy, như diễn tả trong sách Sáng Thế Ký, đó là cái lúc mà bà Eve không cưỡng lại được sự cám dỗ (tượng trưng bằng những lời dụ dỗ của con rắn), ăn trái cây “ biết phân biệt thiện-ác” và rủ ông Adam cùng ăn.
 
2.- Những gì đã xảy ra sau khi  Adam và Eva khởi tâm phân biệt ?

 Khởi đầu, ông Adam và bà Eva là hai người đầu tiên nên chưa hề có ý niệm gì về cái Ác và cái Thiện, nên chưa có sự phân biệt thiện ác.

Sau khi ăn trái cây biết phân biệt thiện-ác, đương nhiên ông Adam và bà Eve  biết phân biệt thiện-ác mà trước đó hai ông bà  chưa hề biết, thực ra thì chưa hề có . Cái ÁC chính là hậu quả  của "tâm phân biệt nhân-ngã", và khi ÁC xuất hiện thì chữ THIỆN theo sau thành một cặp nhị nguyên. Đó là liên hệ nhân qủa, có thể suy luận như sau:

Từ "tâm phân biệt Ta-Người", Ta là nhất (hay tự cho là nhất), Ta là đúng (hay tự cho là đúng), Ta là không sai, Ta được quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn Người…, con người muốn và tìm cách thâu tóm những cái hơn về mình, đó là THAM; nguời khác đụng chạm tới quyền lợi mình, hay là chê bai phỉ báng mình, thì nổi cơn giận, đó là SÂN; tự cho mình là tài giỏi nên có ý khinh người, đó là KIÊU MẠN, thấy người khác hơn mình thì nổi lên sự ghen ghét, đó là lòng GANH TỊ…

Từ tham, sân, kiêu mạn, ganh tị… sinh ra những tranh giành, xung đột…, muốn giành phần thắng thì dùng âm mưu thủ đoạn triệt hạ đối phương, thế là cái ÁC sinh ra, khi có cái ÁC thì có ý niệm THIỆN, và hình thành cặp phân biệt nhị nguyên Thiện-Ác. Ta có thể tóm tắt liên hệ nhân qủa đó như sau:
Tâm phân biệt nhân-ngã →Tham, Sân, Kiêu mạn, Ganh tị →Ác →Thiện - Ác
Và tội ác đầu tiên được tác giả Sáng Thế Ký đề cập ở một câu chuyện khác sau này, đó là vụ án mạng giữa hậu duệ của 2 ông bà là Ca-in và A-ben, hậu qủa của lòng ganh tị. 
 
Như vậy, hậu quả xảy ra ngay sau khi hai ông bà ăn trái cây biết phân biệt thiện-ác là khởi tâm phân biệt "nhân-ngã", (sau đó sinh ra phân biệt thiện-ác), tự cho cái "ta" là đáng qúy nhất, đáng yêu nhất, đúng nhất, đáng tôn kính nhất, thế là từ đó trở đi, Adam và Eve tìm đủ cách, đủ lý lẽ để bảo vệ, bênh vực cho cái TA của mình. "Sợ hãi", "xấu hổ" là một tình cảm phát sinh từ tâm phân biệt nhân-ngã:  Adam đã mất đi tính hồn nhiên khi trần truồng trước mặt người khác, nên tìm cách che dấu ...."Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu? " Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." (St 03:10). Tình cảm này cũng chưa hề có trước đó, tượng trưng (theo Sáng Thế Ký) cho một  tình cảm đầu tiên xuất hiện trong tâm con người.  

 2.1-- Che dấu và chối lỗi : Khi mang tâm phân biệt nhân-ngã, vì tự cho TA là nhất, con người luôn tìm cách bênh vực cho mình, chống đỡ, che dấu hay chối bỏ những lỗi lầm của mình, hoặc đổ  lỗi cho người khác. Lỗi-phải là một cặp nhị nguyên, vốn chưa có lúc khởi đầu, bởi lúc ban đầu ông Adam chỉ sống hồn nhiên vô tư, chưa biết tốt-xấu, thiện-ác, nên cũng chẳng biết lỗi-phải là gì. Đến khi ông mang tâm phân biệt ta-người, biết phân biệt tốt-xấu, thiện-ác,... thì ông bắt đầu biết che dấu hay chối lỗi.

 Đây là lời đối đáp giữa Thiên Chúa và ông Adam : 
 
"..... Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "  Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn...." (St 03,12)
 
Ta thấy trong lời đáp của Adam có cả hàm ý đổ một phần lỗi cho Thiên Chúa khi nói rằng "...người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con ăn trái cây ấy ,nên con ăn...". Ý của Adam là nếu Ngài không tạo ra người đàn bà ấy, hoặc không trao cho ông thì đã không có chuyện gì xảy ra. Vì vậy ông trút lỗi cho Eve, người đàn bà nông nổi, nhẹ dạ, dễ tin (những tính từ này để diễn tả bây giờ chứ hồi đó chưa có), chứ không phải lỗi do ông. Nếu ông có lỗi chăng thì cũng chỉ là do tôn trọng Thiên Chúa  mà chấp nhận người đàn bà đó do Ngài  trao. Tóm lại chẳng phải… lỗi của ông !
 
Còn bà Eve thì cũng không kém, thẳng thừng trút  lỗi cho con rắn: "Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế? " Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn."  Ý của bà là bà không hề có ý trái lời Thiên Chúa, sở dĩ có chuyện đó là do bị lừa mà thôi, bà ngây thơ chứ bà chẳng có lỗi !
 
Cái tâm tính che dấu lỗi mình, đổ lỗi cho người, chưa hề có lúc trước khi Adam ăn trái cấm, hay là trước khi biết phân biệt Ta-Người. 
 
2.2-- Những hậu quả mà ông bà Adam và Eve (tượng trưng cho cả loài người) phải gánh chịu khi mang tâm phân biệt :
 
2.2.1-- Nỗi cực nhọc trong mưu sinh.

 "...Với con người, Chúa phán:"Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó",nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;

ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.
18 Ðất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.
19 Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn,..." (St 03,17-19)
 
Tại sao sau khi biết phân biệt thiện ác lại cực nhọc trong mưu sinh, còn trước đó lại không?
 
Một người đang mắt sáng mà bị mù, chắc ai cũng nhận ra là người ấy sẽ rất đau khổ. Cái khổ là vì mất cái ánh sáng đã từng biết, và cả phần đời còn lại chìm trong tối tăm.
 
Nhưng với một người... mù bẩm sinh thì không vậy. Người ấy chưa hề biết ánh sáng là gì nên cũng chẳng có ý niệm gì về bóng tối, cho dù bạn có giảng giải thế nào thì người ấy cũng chẳng hiểu được sáng/tối là gì, cho nên người ấy không mang cái đau khổ như người kia, mặc dù sống cả đời trong bóng tối (chữ bóng tối là ta hiểu thôi chứ chính bản thân người ấy không biết)
 
Đối với “sung sướng / cực nhọc” trong mưu sinh, hay “hạnh phúc / khổ đau” trong cuộc đời cũng vậy. Trước khi mang tâm phân biệt, ông Adam... “mù” bẩm sinh về những ý niệm này. Ông sống hồn nhiên, như mọi sự mọi vật, không hề biết thế nào là khổ vì không biết thế nào là sướng. Ta chỉ biết cái khổ khi đã biết sung sướng (hay nhìn thấy sự sung sướng của người khác), cũng như chỉ nhận ra bóng tối khi biết thế nào là ánh sáng… Cho nên dù phải làm việc “cực nhọc” để kiếm miếng ăn, ông cũng không biết đấy là cực nhọc (chữ “cực nhọc” đây là hiểu theo ý niệm của ta bây giờ, khi đã biết sướng khổ, chứ vốn không có lúc ban đầu), đt có tr gai cũng không phải là ni kh, mà gai góc ni ra trong tâm mi là cái kh(cái khổ làm thân trâu ngựa cũng chưa phải là khổ. Si mê không biết lối đi, đó mới là khổ”, lời đức Phật)
 
Cùng ý niệm ấy, trong Tương Ưng Bộ Kinh có ghi lời Đức Phật, nói: "....Hoan hỷ chỉ đến với người  tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người  tâm hoan hỷ. Không sầu muộn,  không hoan hỷ, tâm ta không dao động (được bình an, tự tại)... " . Hoan hỷ-sầu muộn là 2 mặt đối nghịch, nhưng luôn song hành : cái này chỉ có khi cái kia có, cái này không có thì cái kia cũng không có, chỉ nhận ra hạnh phúc khi đã biết đau khổ, chỉ biết buồn khi đã hưởng niềm vui, chỉ nhận ra bóng tối khi đã từng thấy ánh sáng (ở đây mang ý nghĩa lý nhị nguyên, tâm bất nhị và lý trung đạo trong giáo lý Phật, xin được trở lại trong một bài kế tiếp).
 
Và sau khi biết phân biệt thiện/ác, cũng là phân biệt TA/NGƯỜI, hai mặt của mọi khía cạnh đời sống nổi lên: vui/buồn, sướng/khổ, … và trong mưu sinh nỗi cực nhọc xuất hiện khi đã thấy có sự, hay có ngưi sung sướng hơn.
 
2.2.2-- Con người phải đối đầu với sự chết.

"...Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết."
"...Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."

 Tại sao ăn trái cây biết phân biệt thiện ác thì sẽ bị chết ? Cái chết ở đây mang ý nghĩa gì?
 
Điều đầu tiên khá rõ ràng là trước khi ăn trái cấm ông Adam chưa hề biết cái chết là gì cả. Nếu tới một ngày nào đó ông nằm xuống thì cũng như mọi sinh vật, mọi vạn vật… nó tự nhiên như thế và như vậy!
 
Và sự việc đổi khác sau khi ông đã khởi tâm phân biệt, những cặp tình cảm nhị nguyên đối đãi phát sinh từ đó, trong đó có sống-chết, sanh-diệt. Và ông đã biết tham sự sống, kinh sợ cái chết, bởi vì ông yêu qúy cái TA và những thứ CỦA TA riêng, không muốn mất. Tình cảm này chưa hề có trước đó.
 
Vạn vật vô thường (đây là luật tự nhiên), sự sinh và cái chết thân xác nằm trong tiến trình tự nhiên của vạn vật, nó như thế là như thế, như như, như vậy! Chiếc lá trên cành cây, nở từ búp lá, lớn dần, rồi héo úa, theo gió lìa cành, rồi dần dần tan biến trong lòng đất, để rồi mầm búp lá khác sinh ra ... cứ thế theo tiến trình sinh diệt vô thường của vạn vật một cách tự nhiên như vậy, như thế...
Và thân xác con người cũng như thế, một hài nhi sinh ra, lớn lên, rồi già, rồi tới một ngày nào đó nằm xuống và tan biến trong lòng đất để "trở về với cát bụi", cũng trong tiến trình tự nhiên như thế, như vậy.
 
Cái quan trọng ở đây  chính là cái tình cảm (tâm) sợ hãi cái chết chứ không phải là cái chết thân xác. Cái tình cảm sợ hãi này vốn không có trước khi ông Adam và bà Eve mang tâm phân biệt (tượng trưng bằng hành động ăn trái cây biết phân biệt thiện ác). Lúc đó hai vị chưa mang tình cảm yêu-ghét, hơn-thua, giàu-nghèo, sướng-khổ … nên không có gì phải nuối tiếc để phải phát sinh ra nỗi sợ mất mát. Ngày nay thì khác hẳn, chúng ta nuối tiếc quá nhiều thứ nếu mất đi, mà cái chết là mất hết, cho nên ta sợ hãi. Ước muốn của ta là tồn tại mãi, còn cái chết thì đẩy cho người.
 
Như vậy, nếu không mang cái tình cảm khiếp sợ cái chết, thì sự tan rã của thân xác chẳng còn là quan trọng nữa, chỉ như bông hoa tàn, như chiếc lá úa, trong tiến trình tự nhiên của vạn vật vô thường. Mà tình cảm về (yêu/ghét) sanh-tử ấy chỉ nẩy sinh khi con người đã mang tâm phân biệt.
 
Vậy nếu bằng phương cách nào đó ta trở lại được với tâm vô phân biệt của Adam trước khi ăn trái cấm, thì cái tình cảm về sợ hãi cái chết không còn nữa: ý niệm về “tử” không còn thì ý niệm về “sanh” (trong cặp nhị nguyên “sanh/tử”) cũng không còn. Đó hẳn là cái nghĩa "không sanh không tử", một trong những tâm bất nhị trong Phật giáo.
 
Cái "chết" còn mang một ý nghĩa tâm linh khác, xin sẽ được trở lại với một bài viết khác (Sinh, Tử và Tái Sinh).
 
Trong bài kế tiếp (trang 2) là ba câu chuyện: Ca-in và A-ben, Đại hồng thủy, và câu chuyện tháp Ba-ben.
 
Trang  (1)  (2)  (3)
 
Duy Đức
(Jun-2008) 
 
                            Home                            Top               
___
 
  
 

 



This website is powered by TipTopWebsite.com