ADAM, EVA và Vườn EDEN
(Ca-in và A-ben, Đại Hồng Thủy và Chuyện Tháp Ba-ben)
─◊─
3.- Ba câu chuyện : Ca-in và A-ben, Đại hồng thủy , Tháp Ba-ben.
Sau câu chuyện ăn trái cấm của ông Adam và bà Eve, và những hậu quả mà hai vị, tượng trưng cho loài người, sẽ phải gánh chịu, tác giả xây dựng ba câu chuyện điển hình khác với ba tình huống khác nhau, xảy ra cho các hậu duệ của hai vị sau đó, với mục đích cho thấy tội lỗi và cái ác bắt đầu phát tác nơi hậu duệ của Adam và Eve, do hậu qủa của tâm phân biệt nhân ngã.
3.1.- Lòng Ganh tị và câu chuyện Ca-In giết A-ben.
Từ đâu sinh lòng ganh tị ?
Lòng ganh tị khởi sinh từ tâm phân biệt nhân ngã. Khi đã chấp ngã, con người tự cho cái ta là phải hơn, là nhất, là đúng, là đáng tôn trọng hơn cả.... Thế nên khi thấy có người hơn mình (nhất là người đó lại ngang hàng với mình, cùng địa vị như mình hay thấp hơn mình), thì cảm thấy tức tối vì thua kém, bị tổn thương. Đó là lòng ganh tị, cho dù sự hơn kém ấy có khi chỉ là bẩm sinh chứ không hẳn là người khác cố ý vượt trội hơn mình. Ganh tị thường đưa dến sự căm ghét, và dễ dàng dẫn tới xung đột.
Ca-in, con của Adam và Eve, hẳn là đã nhiễm tâm phân biệt từ cha mẹ, và vì thế mới sinh lòng ganh tị khi thấy người em của mình là A-ben được Thiên Chúa ưu ái hơn mình. Xin trích đây một đoạn của câu chuyện:
"...A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai. 3 Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên Ðức Chúa. 4 A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. Ðức Chúa đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, 5 nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt. 6 Ðức Chúa phán với Ca-in: "Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? 7 Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó." 8 Ca-in nói với em là A-ben: "Chúng mình ra ngoài đồng đi! " Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình...."(St 04,2-8)
Trong câu chuyện chỉ có ba nhân vật, Thiên Chúa ở giữa, A-ben và Ca-in ở hai bên. Như vậy sự việc Thiên Chúa ưu ái A-ben hơn Ca-in, chỉ phát xuất từ cái nhìn chủ quan của riêng Ca-in mà thôi. Cái nhìn đó hẳn đã bị cái “TA” trong tâm phân biệt nhân-ngã của Ca-in làm cho lệch lạc. Nếu không có tâm phân biệt TA-NGƯỜI thì sự việc sẽ hoàn toàn khác, sẽ không có hơn thua, nên sẽ không ganh tị.
Cái nhìn chủ quan của Ca-in cũng giống như cái nhìn thiên lệch của người đánh mất cái búa trong câu chuyện “Mất Búa” sau đây:
“Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nó cất nhắc, hành động, không một tí gì là không rõ ra một đúa ăn trộm búa cả.
Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa, thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng, ngôn ngữ cử chỉ lại không một tí gì giống một đứa ăn trộm búa nữa.”
(Mất Búa - Liệt Tử. Theo Cổ Học Tinh Hoa của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân)
Điều khác nhau là người mất búa còn có cơ hội để nhận ra cái nhìn sai lệch của chính mình trước khi có một quyết định tai hại, còn Ca-in thì đã bỏ lỡ cơ hội ấy.
Nhận xét với cái tâm của chúng ta bây giờ, khi đọc câu chuyện chúng ta cũng hướng theo cái nhìn của Ca-in, nên cũng thấy Thiên Chúa đoái nhìn đến A-ben hơn là Ca-in, như vậy là Ngài đã bất công đối với Ca-in. Nhưng thật ra công bằng với bất công chỉ là cặp đối đãi nhị nguyên phát sinh từ tâm phân biệt mà ra, mà chính chúng ta hiện đã mang tâm phân biệt nên cũng nhận định như thế, và từ đấy lòng ganh tị nảy sinh trong tâm Ca-in, từ ganh tị sinh oán trách, sân hận với A-ben và cả Thiên Chúa của mình, và Ca-in đã không kềm chế được nên đã giết A-ben.
Án mạng hẳn đã không xảy ra :
(1).- Nếu Ca-in và A-ben không mang tâm phân biệt, công bằng hay bất công vốn không có trong tâm người không mang tâm phân biệt. Ca-in và A-ben chỉ hồn nhiên làm việc với khả năng, sức lực của mình, không mảy may vướng víu một thắc mắc nào, đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì nghỉ, với một cái tâm rất là bình thường, thanh tịnh, ... như thế thì không phân biệt người-ta nên chẳng có lòng ganh tị, không có tức giận, chẳng có chê trách, chẳng có công bằng hay bất công và dĩ nhiên là không có án mạng có chủ ý, không có tội ác xảy ra.
(2).- Nếu Ca-in tuy mang tâm phân biệt, nhưng đã được chỉ bảo, với lý trí sáng suốt, biết nhận định rõ đâu là tốt đâu là xấu, tuy thấy A-ben được ưu ái hơn mình, không những Ca-in không ganh tị, mà ngược lại còn lấy làm hân hoan trước thành đạt của em mình (“ vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” (Rô-ma 12,15); hay tinh thần chữ Hỷ nói trong đạo Phật, là vui mừng khi thấy người khác được thành đạt). Khi đã biết vui mừng vì thành đạt của kẻ khác thì đâu còn lòng ganh tị hay oán hận mà giết người nữa.
Đứng trên nhìn xuống hẳn Thiên Chúa thấy như vậy. Và sự trừng phạt dành cho Ca-in chỉ tượng trưng là đuổi đi, vì thực tế trong xã hội ta cũng thường thấy khi một kẻ đã gây tội ác giết người như thế thì chính nơi anh ta đã gây tội ác cũng khó mà dung chứa anh ta ("Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất" (St 4,11-12). Sở dĩ hình phạt chỉ tượng trưng vì Ca-in là hậu duệ đầu tiên của Adam và Eve, nên tuy đã nhiễm tâm phân biệt nhưng chẳng biết, và cũng chưa từng được dạy bảo phải hành xử thế nào khi sự ganh tị nổi lên trước thành đạt của ngưòi khác. Nhưng dù sao thì suốt đời còn lại, Ca-in cũng mang dấu ấn của tội ác.
Còn một điều nữa, Thiên Chúa gợi ý cho Ca-in suy nghĩ, trước khi án mạng xảy ra: khi có một sự gì mà mình cho là không thỏa đáng đối với mình thì trước hết hãy tự vấn xem chính mình đã làm đã làm hết tâm sức chưa, có lỗi lầm hay thiếu sót gì trong đó không, đừng để sự ganh tị nó làm lu mờ lý trí, dẫn đến khống chế và hướng dẫn hành động của mình. "...Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó." . Theo hướng đó, nếu Ca-in tự thấy mình đã làm hết sức hết tâm rồi thì cứ thản nhiên sống, bình tâm và chẳng nên thắc mắc ganh tị. Nhưng Ca-in đã để cho lòng ganh tị chế ngự, làm chủ hành động của mình, và tội ác đã xảy ra.
Tóm lại, cái triết lý của câu chuyện mà tác giả muốn nói là: tội ác lúc nào cũng rình rập đằng sau con người mang tâm ganh tị. Đó là một sự thật chung trong xã hội con người, dù bạn có niềm tin hay không ở Thiên Chúa.
"Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa." (Gia-cô-bê 3:16)
3.2.- Câu Chuyện Đại Hồng Thủy.
Một bà mẹ hẳn là đau khổ tột cùng khi biết mình mang một quái thai trong bụng. Bà buồn rầu khi nghĩ tới tương lai đau khổ của đứa con trong tương lai.
Trong câu chuyện đại hồng thủy, sách Sáng Thế Ký, cái tâm trạng đau khổ của bà mẹ ấy được tác giả đặt vào vị trí của Thiên Chúa, và đứa con là những hậu duệ của Adam và Eve đã nhiễm tâm phân biệt, và hậu qủa của nó đã và đang phát tác, hứa hẹn một tương lai đầy tội lỗi và khổ đau cho chính họ, điển hình là câu chuyện Ca-in giết A-ben vì lòng ganh tị. Con người với tâm hồn như thế dưới mắt Thiên Chúa chỉ là những quái thai, khác với dự định ban đầu của ngài. Ta hãy xem tâm trạng của Thiên Chúa lúc đó:
Ðức Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày. Ðức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. Ðức Chúa phán: "Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng." Nhưng ông Nô-ê được đẹp lòng Ðức Chúa...(St 06,5-8)
"Ta sẽ xóa bỏ con người trên mặt đất mà ta đã sáng tạo", đó là một lựa chọn đau lòng. Tuy đau lòng nhưng Thiên Chúa đã quyết định thực hiện. Đó là nguyên do của trận đại hồng thủy, xóa bỏ loài người đã mang mầm mống tội ác và khổ đau do tâm phân biệt nhân ngã..
Có thể ta đặt thêm một câu hỏi, tại sao Thiên Chúa vốn "toàn năng" lại không dùng quyền năng ấy vứt bỏ cái tâm phân biệt, hay vứt bỏ cái Ác ra khỏi tâm loài người?
─ Nếu làm như thế lại mâu thuẫn với lúc ban đầu, vì chính Thiên Chúa đã cho ông Adam và ba Eve cái quyền tự do chọn lựa ăn hay không ăn "trái cây biết phân biệt thiên-ác", và biết đâu sự tước bỏ quyền tự do đó lại chẳng mang đến đau đớn chẳng khác gì, hay đau đớn hơn cả cái chết. Quyền tự do quan trọng trong đời sống đến nỗi chính chúng ta ngày nay cũng đã có quan niệm rằng "tự do hay là chết" cơ mà!
Để có một giải thích chung, ta hãy đơn giản coi câu chuyện đại hồng thủy như là một phương tiện chuyển tải cái thông điệp rất quan trọng đối với nhân loại, đó là: Nếu con người không tu sửa, mà cứ để cái tâm nhị nguyên phân biệt ta/người phát triển và điều khiển mình thì có thể tai họa... diệt vong sẽ đến vào một ngày nào đó. Hàng trăm trái bom nguyên tử đang chờ sẵn! Bom tự nó không nổ được, nhưng cái lòng tham sân si, kiêu mạn, ganh tị sẽ xúi người ta tới xung đột, rồi dẫn tới bấm nút chẳng bao xa. Mà tham sân si, kiêu mạn, ganh tị thì phát xuất từ tâm phân biệt ta/người. Tâm phân biệt ta/người cũng chính là lòng vị kỷ, tánh duy ngã độc tôn. .
Có thể tác giả đã dựa vào một trận đại hồng thủy nào đó trong quá khứ (?) để xây dựng câu chuyện, với mục đích lồng cái triết lý về tâm phân biệt vào đó.
Trong lá thư thứ 1 của thánh Phêrô, có nói tới về ý nghĩa chữ “nước" của trận đại hồng thủy tượng trưng cho sự loại trừ tội lỗi để cầu tìm một lương tâm trong trắng, (và sau này "nước" được dùng tượng trưng trong phép rửa tội hẳn cũng mang ý nghĩa đó?):
”… thời ông Nô-ê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. Nước đó là hình bóng làm phép rửa nay cứu thoát anh em. Nhờ phép rửa này, không phải là anh em được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Ðức Giêsu Kitô” (1Pr 3:20-21).
Tiếp tục câu chuyện, riêng gia đình ông Nô-ê được Thiên Chúa đánh giá là còn chân chính, nên đã được để lại, và cùng với những lời răn đe như "Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra" (St 09,6) , tức là làm tội ác phải bị trừng phạt. Ngài hi vọng sẽ gây dựng lại những thế hệ khác tốt đẹp hơn từ gia đình chân chính này. Nhưng rồi hậu qủa của tâm phân biệt mà họ bị lây nhiễm ẩn dấu đâu đó, lại dần dần phát tác . Tới câu chuyện Tháp Ba-ben, thì Thiên Chúa đã phải ra tay ngăn chặn trước mối nguy hại do lòng kiêu hãnh phát khởi nơi con người.
3.3.- Lòng kiêu hãnh và câu chuyện Tháp Ba-ben.
Lòng kiêu hãnh từ đâu mà có ?
Cũng lại phát xuất từ tâm phân biệt nhân-ngã ( chấp ngã ): tự cho mình là tài giỏi, lên mặt với người khác, rồi khinh khi kẻ khác, cho rằng kẻ khác không bằng mình. Cùng với kiêu hãnh, trong ngôn ngữ Việt Nam có thêm các từ tương tự : kiêu ngạo, kiêu căng, kiêu mạn. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra ghen ghét, ganh tị và thù hận, rồi xung đột và tội ác.
Trong câu chuyện Ca-in và A-ben, chỉ mới thấy A-ben hơn mình thôi mà Ca-in đã nổi lòng ganh tị, giận cả với Thiên Chúa của mình, để rồi đưa tới án mạng, huống gì nếu A-ben khi cho rằng mình hơn, lại nổi lòng kiêu hãnh và khinh khi Ca-in, thì lòng ganh ghét, uất hận nơi Ca-in còn lên cao tới đâu. Lòng kiêu hãnh của một người đã nguy hiểm như thế, huống chi cả một xã hội, một quốc gia, một tập hợp lòng kiêu hãnh được nuôi dưỡng và lớn lên như vậy thì mối hiểm nguy còn lớn biết chừng nào; ẩn trong nó hẳn là cả một hiểm họa của xung đột và chiến tranh. Lòng kiêu hãnh nếu được cộng thêm lòng tham lam, sân hận nữa thì hiểm họa lại càng tăng cao.
Riêng từ "kiêu hãnh" trong ngôn ngữ Việt Nam đôi khi được cho là mang một ý nghĩa tốt, vì nó tạo ra một thách đố, một tinh thần thi đua giữa người và người để đạt kết qủa tốt hơn nữa. Thế nhưng tại sao ta lại không thể đạt kết qủa như thế, hay tốt hơn thế với lòng khiêm nhường mà lại phải cần tới lòng kiêu hãnh:
"Kiêu hãnh đi liền với ô nhục,khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường." (Châm ngôn 11,2)
"Kiêu ngạo sinh ra nhiều đổ vỡ và bất hoà" (Tob 4,13)
Đây là đoạn văn diễn tả "lòng kiêu hãnh tập thể" đang hình thành ở những người xây dựng tháp Ba-ben:
Họ bảo nhau: "Nào! Ta đúc gạch và lấy lửa mà nung!" Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ.
Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất."
Biết trước những thảm họa sẽ xảy đến trong tương lai vì lòng kiêu hãnh, Thiên Chúa đã ra tay ngăn chặn sự phát triển lòng kiêu hãnh nơi con người. Đó là lý do của câu chuyện tháp Ba-ben đang được xây dựng đã phải bỏ dở dang. Nếu sự hoàn tất tháp Ba-ben tượng trưng cho lòng kiêu hãnh của loài người, thì việc bỏ dở dang lại tượng trưng cho ý muốn của Thiên Chúa khuyên con người nên dẹp bỏ lòng kiêu hãnh ngay từ khi nó mới phát sinh :
"Sự kiêu hãnh đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã." (Châm ngôn 16,18)
Trong lịch sử cận đại, Hitler cùng với Đức quốc xã, với lòng kiêu hãnh tự tôn mình là một
"dân tộc thượng đẳng", cùng với tham vọng và sân hận, đã đưa tới trận chiến tranh thế giới thứ II khốc liệt ở thế kỷ 20. Đức Quốc Xã đã đưa quân đội chiếm đóng gần khắp châu Âu, với toan tính sẽ tạo ra một nước Đức vĩ đại với Berlin là thủ đô. "Nước Đức Vĩ Đại" hay "Đại Đức" là hình ảnh một tháp Ba-ben mới, được xây dựng với lòng kiêu hãnh, đầy tham vọng, lần này không những chỉ bỏ dở dang mà còn xụp đổ theo sự tiêu vong của chế độ.
Nếu bạn không tin ở sự hiện diện của một vị Thiên Chúa, thì bạn có thể coi tháp Ba-ben trên đây như là một câu chuyện mà tác giả Sáng Thế Ký xây dựng để gởi gấm cái triết lý về lòng kiêu hãnh của con người, phát xuất từ tâm phân biệt. Cũng có thể tác giả đã mượn sự việc một cái tháp nào đó bị bỏ dở thời xa xưa, cùng những thực tế là loài người có nhiều dân tộc và ngôn ngữ khác nhau, để xây dựng câu chuyện.
Duy Đức
(Jun-2008)
___