ADAM, EVA và Vườn EDEN 

(Vườn Địa Đàng: Thiên Đường Đánh Mất.)
─◊─
 
Trang  (1)  (2)  (3)
4.- Tội tổ tông.
 
Nếu cho rằng tội tổ tông là do ông Adam và bà Eve chỉ vì trái lệnh Thiên Chúa, ăn trái cây biết phân biệt thiện ác, từ đó hai ông bà cùng hậu duệ là cả loài người bị Thiên Chúa trừng phạt bắt phải lãnh sự khổ và cái chết, thì cái lý ấy có vẻ khó thuyết phục được mọi người, nhất là ở thời đại ngày nay. Câu chuyện như thế dễ làm cho người ta tưởng tượng ra một người cha quá khắc nghiệt, khi phát hiện một đứa con nhỏ không nghe lời, ăn một trái cây nào đó mà ông đã dặn đừng lấy, ông nổi trận lôi đình, phạt đòn và bắt nó phải làm việc cực nhọc mới được cho ăn..., với lý do… chỉ vì không tuyệt đối vâng lời ông ! Nếu có một sự việc xảy ra như vậy, hẳn không tránh khỏi có người tỏ ý bất bình.  
 
Có một chàng thanh niên nọ tới một vị bác sĩ già kia để khám bệnh. Vị bác sĩ này là một thiên tài y khoa, đã hành nghề lâu năm, rất tài giỏi và rất nhiều kinh nghiệm. Sau khi khám cho chàng thanh niên, ông khuyên chàng: "Nếu chưa hút thuốc thì con đừng hút, nếu đã biết thì con hãy từ bỏ nó đi, nếu không, mai kia sẽ chết đấy con ạ !". Chàng thanh niên vâng dạ. Thế nhưng, ngoài xã hội chàng sống buông thả theo những cám dỗ, ham vui, ham chơi... Chàng thanh niên tiếp tục hút. Một ngày kia chàng trở lại vị bác sĩ già vì thấy bị ho và đau ngực, sau khi khám, vị bác sĩ già cho biết là "ung thư phổi đã phát triển tới thời kỳ chót, con sẽ chết trong vòng 6 tháng nữa !". Thật kinh hoàng khi nghe tin này, nhưng cũng thật là không hợp lý nếu chàng thanh niên hay người thân của chàng ta lại cho rằng người bác sĩ già kia đã trừng phạt chàng ta, chỉ vì… không nghe lời ông ! Bây giờ, thay vì bệnh ung thư, ta đổi qua bệnh AIDS để có sự lây truyền cho con cháu, thì cũng chẳng hợp lý chút nào nếu con cháu chàng cũng lại cho rằng vị bác sĩ già đã trừng phạt cả họ nữa chỉ vì tội của ông cha họ. Đây chỉ là liên hệ nhân-quả mà chàng thanh niên phải chịu, nếu nói là trừng phạt thì chính hành động của chàng thanh niên đã trừng phạt chính chàng ta, như chữ "nghiệp" trong Phật Giáo, và dây dưa tới con cháu. Lời của vị bác sĩ chỉ là lời khuyên hay cảnh cáo của một người đã dày dạn kinh nghiệm, đã biết trước, nhưng nghe hay không là sự lựa chọn tự do của chàng thanh niên. Và chàng ta đã lựa chọn sự không nghe theo, và đã lãnh hậu quả ấy.
 
Tội do ông Adam và bà Eve mắc phải cũng hơi giống như thế, tuy rằng ở hai hoàn cảnh khác nhau:
─ Với chàng thanh niên sống trong xã hội bây giờ, ít nhiều cũng đã được dậy cho biết rằng nếu để sự cám dỗ lôi kéo, có thể gây tai họa, nhưng anh ta vẫn cứ theo (đây là "nghiệp" là hành động có chủ tâm)
─ Với ông Adam và bà Eve, tâm của hai vị lúc đó còn trắng tinh, hẳn là chẳng biết gì về sự cám dỗ cũng như hậu qủa của nó.
 
Khởi đầu, ông Adam và bà Eve, tượng trưng cho con người thuở ban đầu, chưa mang tâm phân biệt, nên chưa biết xấu hổ là gì, chưa từng biết cái chết nên không hề sợ hãi, chưa biết cái khổ nên cũng chẳng cần biết tới hạnh phúc, chưa từng biết cái ác là gì nên cũng không có ý niệm gì về thiện. Đấy là "Tâm Bất Nhị" nói trong Phật giáo, là bản tâm, con người lúc ấy chưa hề bị phiền não bởi sợ hãi, sinh tử, vui buồn, thiện ác. Đó là "hạnh phúc" vốn có khi ở vườn Ê-đen....
 
Tuy đang sống "hạnh phúc" (ý niệm "hạnh phúc" như ta hiểu bây giờ, lúc ấy cũng chưa có vì chưa có đau khổ) nơi vườn Ê-đen nhưng hai ông bà không hề biết, kể cả cái chết cũng chưa từng biết nên chẳng hề lo sợ. Chỉ có Thiên Chúa biết, nên dặn dò rằng "đừng ăn trái cây biết phân biệt thiện ác, nếu không thì chết đấy !", giống như lời của vị bác sĩ già đầy kinh nghiệm dặn dò chàng thanh niên kia. 

Thế rồi, vì bị cám dỗ, ông bà khởi tâm "phân biệt thiện-ác" (tượng trưng bằng hành động ăn trái cấm) tức là phát khởi tâm phân biệt Ta-Người, từ đó mới biết thế nào là chết và nỗi sợ hãi cái chết (vì biết phân biệt sanh-tử), mới biết thế nào là đau khổ (vì biết phân biệt sướng-khổ), biết thế nào là ác (vì biết phân biệt thiện-ác). Đó là liên hệ nhân-qủa. Tâm phân biệt Ta/Người sinh ra lòng ganh tị, tính kiêu mạn, lòng tham lam và sân hận... và từ đó mà tạo ra tội ác, và đau khổ... Và vì sống chung đụng, nên cái tâm phân biệt ấy lan truyền qua mọi thế hệ cho tới ngày nay. Vụ án mạng Ca-in giết A-ben vì lòng ganh tị tượng trưng cho tội ác đầu tiên của loài người sinh ra từ tâm phân biệt. 

Hình ảnh "Thiên Chúa làm cho con người (Adam) và vợ con người (Eve) những chiếc áo bằng da và mặc cho họ” (St 3,21),cho ta thấy tình cảm của người cha hay mẹ ân cần lẫn thương xót trước viễn cảnh những đứa con sắp phải đi lưu đày, chứ không phải sự trừng phạt. Thiên Chúa xót xa khi nhìn con cái mình đang đi vào con đường tội ác và đau khổ, và từ đó tìm mọi cách ngăn chặn tội ác và cứu giúp con người khỏi đau khổ. 

Nhưng dù vô tình hay cố ý, việc đưa hậu duệ của mình vào thế giới của thiện ác hay thế giới có tội lỗi cũng có nguyên do từ ông Adam vì ông là người đầu tiên của nhân loại, mà người đầu tiên thì chưa biết ác biết thiện là gì cả. Nhưng vì không cưỡng lại được sự cám dỗ (tượng trưng bằng lời con rắn, hay là qủi Sa-tan) ông đã khởi tâm biết phân biệt thiện ác (tượng trưng bằng ăn trái cây biết phân biệt thiện ác), cũng là khởi
tâm phân biệt Ta/Người. Từ đấy tâm phân biệt Ta/Người, đầu mối của tội lỗi, truyền nhiễm cho con cháu và toàn thể loài người cho tới ngày nay, do sự giao tiếp hàng ngày.

Đó là "tội tổ tông" mà ông Adam đã gây ra, và con cháu cũng nhận lãnh theo, cũng gọi là "tội tông truyền" (không làm nhưng cũng phải chịu, vì bị truyền nhiễm). Từ đó ông Adam phải gánh chịu trách nhiệm mãi mãi, hay ít nhất cũng tới ngày con người loại bỏ được cái ÁC (cũng là loại bỏ được tâm phân biệt Ta/Người), mà sống hòa đồng với nhau theo tinh thần "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình". Chỉ có tình yêu như thế mới loại trừ được tận gốc cái ÁC, vì khi yêu NGƯỜI (tha nhân, kể cả kẻ thù) thì không thể còn hành động ÁC, "Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13:10).  . Sau này chính đức Jesus đã rao giảng tình yêu như thế, với mục đích để cứu nhân loại khỏi tội ác, và ngài đã hi sinh cả thân mình cho sứ mạng đó. Đó là ý nghĩa của ba chữ "Chúa Cứu Thế" mà nhân loại đã trân trọng khi xưng danh ngài.
 
Ông Adam, bà Eva, con rắn, trái cây biết phân biệt thiện ác... chỉ mang tính biểu tượng để tác giả gởi gấm cái triết lý của mình, như ta thường thấy ở những câu chuyện huyền thoại, hay những chuyện ngụ ngôn. Cái triết lý ấy là trong xã hội con người và ngay trong mỗi mỗi con người luôn có sự đối đầu giữa cái THIỆN tượng trưng bởi Tình yêu (hay Thiên chúa) và cái ÁC tượng trưng cho khuynh hướng bị cám dỗ lôi kéo làm chuyện tội lỗi (hình ảnh của Satan hay con rắn). Trích đoạn Sáng Thế Ký, lời Thiên chúa phán về cuộc đối đầu này:

Ðức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn:
"Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó." (St 3:14-15)
 
Và cho tới nay, cuộc đối đầu ấy vẫn còn tiếp diễn: xung đột, chiến tranh, tội ác... vẫn diễn ra hàng ngày, bởi lòng tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị... mà cái gốc của chúng là tâm phân biệt TA/NGƯÒI. Và "tội tổ tông" vẫn chưa gỡ được khỏi vai ông bà Adam và Eva, cho tới khi nào tình yêu thắng thế mới có hạnh phúc đời đời, và lúc đó ông Adam mới... hết tội.
 
5.- Vườn Địa Đàng : Thiên Đàng đánh mất.
 
Bây giờ ta hãy dạo qua cái vườn Eden hay là vườn địa đàng diễn tả trong sách Sáng Thế Ký :
 
Ðức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. 10 Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh.11 Tên nhánh thứ nhất là Pi-sôn, nó bao quanh tất cả đất Kha-vi-la là nơi có vàng; 12 vàng ở đất này tốt, tại đó có nhũ hương và đá ngọc. 13 Tên nhánh thứ hai là Ghi-khôn; nhánh này bao quanh tất cả đất Cút. 14 Tên nhánh thứ ba là Tích-ra; nhánh này chảy ở phía đông Át-sua. Còn nhánh thứ bốn là Êu-phơ-rát. 15 Ðức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai. 16 Ðức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; 17 nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết."(St 02,9-17)

Với hình ảnh một vườn địa đàng như thế, ta thấy ở trên trái đất ngày nay cũng có thể có. Một vị tỉ phú đô-la, với kỹ thuật ngày nay, có thể xây dựng một vài khu vườn như mô tả, cũng không khó lắm. 

Bây giờ giả dụ đặt bạn ở trong khu vườn như thế, bạn có thực sự tìm được hạnh phúc vĩnh cửu không? Bạn vốn mơ ước vàng ngọc, kim cương ... bạn có thể đeo từ đầu xuống chân. Có thể bạn vui sướng một thời gian, vì trước kia bạn mơ ước nhưng không được, và nay mới có. Thế nhưng niềm hạnh phúc đó sẽ chẳng được bao lâu, bởi vì cái bạn mong, cái hạnh phúc bạn muốn không phải chỉ là đeo vàng ngọc đầy người, mà là bạn muốn có hơn người khác, TA phải hơn NGƯỜI. Bạn ở một mình thì bạn hơn ai ? ví như có người khác ở chung cùng bạn thì họ cũng đeo vàng ngọc từ đầu xuống chân y như bạn, thì bạn hơn ai ? Nếu không có sự so sánh hơn thua ấy thì vàng ngọc đeo vào thân cũng chẳng khác gì một gánh nặng. (Còn tâm tham sân si thì dù trong hoàn cảnh nào con người lại tiếp tục tranh đua hơn thua để rồi lại được mất, hơn thua, thắng bại, và dẫn tới phiền não.) 
 
Những điều kiện khác để tạo ra hạnh phúc đời thường (đã mang tâm phân biệt) cũng vậy:  Ta chỉ sung sướng với tiền triệu trong tay khi người khác đổ mồ hôi hột suốt ngày mà chẳng kiếm được là bao, nếu ai cũng có tiền triệu như ta thì niềm sung sướng đó không còn, và nhìn người khác có tiền tỉ ta sẽ cảm thấy buồn vì thua kém. Ta chỉ kiêu hãnh với nhà cao cửa rộng, trong khi người khác ở trong những túp lều chật hẹp tầm thường. Ta chỉ hãnh diện khi ăn ngon mặc đẹp cùng vợ đẹp con khôn, trong khi người khác lam lũ kiếm ăn, vợ con nheo nhóc. Ta hạnh phúc vì thân mình khỏe mạnh trong khi người khác ốm đau bệnh tật, người khác thì chết trẻ nhưng ta vẫn được bình an tới tuổi già. Ta thường  coi thất bại của kẻ khác như là thắng lợi của mình và hả hê vui sướng ....Tất cả là do phân biệt nhân ngã, hơn thua, giàu nghèo, hay dở .... 
 
Tóm lại hạnh phúc đời thường trên thế gian là TA và CỦA TA phải hơn NGƯỜI khác.Thế nhưng với lý vạn vật vô thường, cái gì bạn được rồi cũng sẽ có lúc mất, và cái mất to lớn nhất, mất tất cả, là sự chết. Được thì hạnh phúc, mất thì đau khổ. Vậy làm sao mà có được cái hạnh phúc vĩnh cửu nơi con người còn chấp ngã, cho dù là đang ở trong cái vườn gọi là địa đàng hay cõi thiên thai ấy. 

Trở lại với ông Adam và bà Eve, khi đã mang tâm phân biệt thì hai vị cũng như ta trong ví dụ nói trên vậy. Nhưng trước khi ăn trái cấm thì lại khác hẳn, hai vị chưa có sự phân biệt tình cảm nhân-ngã, nên chưa biết tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, do đó không có hơn-thua, được-mất, thắng-bại, nên cũng không phân biệt thiện hay ác, hạnh phúc hay khổ đau,  giàu hay nghèo, khinh hay trọng, không tiếc nuối qúa khứ, chẳng mong đợi hay lo lắng tương lai ... Cuộc sống hàng ngày của hai vị đơn giản, bình thường như mọi sự vật bình thường....,sống bình thường y như câu "bình thường tâm thị đạo". Đấy mới là “hạnh phúc vĩnh cửu”, nhưng Adam chẳng hề biết (trong Phật giáo dùng chữ vô minh). Thực ra cũng không thể dùng chữ "hạnh phúc" đời thường để diễn ta cái tâm trạng này, vì "hạnh phúc đời thường" cần điều kiện hơn thua, được mất, còn “hạnh phúc vĩnh cửu” này là ở người không có hay đã loại bỏ hơn thua, được mất.

Như vậy vườn Eden, vườn địa đàng, hay thiên đàng, hay nuớc Trời là đâu? -- Chính là ở trong tâm con người khi không còn mang tâm phân biệt nhân-ngã (tức là không tham sân si, mà trong Phật giáo cũng nói tận diệt tham sân si là Niết bàn), chứ chẳng phải là một cảnh giới cụ thể nào bên ngoài tâm con người.  Khi được hỏi về nước Thiên Chúa, đức Jesus trả lời rằng : "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17,20-21).
 
-- Khi ông Adam chưa mang tâm phân biệt (chưa biết phân biệt thiện/ác, chưa ăn trái cây biết phân biệt thiện/ác) thì chính ông đang ở trong thiên đàng. Cho dù ông đang cư ngụ ở đâu đi nữa, thì nơi ấy cũng là vườn Eden của chính ông. Thiên đàng ở trong tâm ông. 
 
-- Khi ông khởi tâm phân biệt (biết phân biệt thiện/ác với hành động tượng trưng là ăn trái cây biết phân biệt thiện ác) là chính ông đã tự bước ra khỏi thiên đàng, đã tự dựng môt hàng rào kiên cố hay đào một bể khơi để tự tách mình ra khỏi thiên đàng vậy.
 
-- Khi ông đã mang tâm phân biệt là ông đang ở trong thế giới ta bà, thế giới của phiền muộn khổ đau sinh ra bởi tham sân si kiêu mạn, yêu ghét, nhân-ngã, thiện-ác, giàu-nghèo, ân-oán, sướng-khổ...
 
Vậy ta cũng có thể nói về Thiên Đàng một cách vắn tắt: "Thiên Đàng tại tâm", như thường nghe "Phật tại tâm" hay "Niết Bàn tại tâm" trong Phật Giáo.
 
"Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông" còn mang thêm một ý nghĩa nữa là nếu một tổ chức, một gia đình, một xã hội, một quốc gia... mà bao gồm những con người đã mang Thiên đàng trong tâm, thì đó chính là một cảnh giới thiên đàng ngoài đời vậy. Thiên đàng "đang ở giữa các ông" với nhau, vì các ông biết yêu thương nhau: đó là cảnh giới hòa bình, yêu thương, không chiến tranh, không đau khổ.
 
6.- Đường Về: Đi tìm lại Thiên Đường đã mất.
 
Tóm lại, khi khởi tâm phân biệt thiện ác, chính là lúc ông Adam và bà Eve đánh mất thiên đàng trong tâm của mình, vì chuyển từ tâm vô phân biệt (không thiện không ác) thành tâm phân biệt (có thiện có ác). Và chúng ta là hậu duệ của hai ông bà cũng lây nhiễm tâm phân biệt trong tâm mình nên cũng chẳng thấy được thiên đàng là đâu.
 
Khởi tâm phân biệt thiện ác cũng chính là khởi tâm phân biệt nhân-ngã, vì chính tâm phân biệt nhân-ngã mới là nguyên nhân của tâm phân biệt thiện ác
 
Con đường trở về với thiên đàng đã mất là tìm lại cái tâm ban đầu của Adam khi chưa ăn trái cấm, đó chính là cái tâm chưa biết phân biệt thiện ác, hay tổng quát hơn là cái tâm không “phân biệt nhân-ngã”, hay không “duy ngã độc tôn”. Đó là cái tâm trống trải, thanh tịnh vốn có từ ban đầu, là “bản tâm”, hay là cái "bản lai diện mục", chưa hề có phân biệt nhân-ngã nên vắng mặt vui buồn,  giàu nghèo, kiêu hãnh, ganh tị, khinh trọng, hơn thua, được mất, thiện ác, không tiếc nuối qúa khứ, chẳng mong đợi hay lo lắng tương lai ... đó là tâm bất nhị hay tánh không hai nói trong Phật Giáo, và theo lời đức Phật thì “tánh không hai là Phật tánh”.
 
6.1.- Tâm hồn trẻ thơ.
 
Ta hãy thử so sánh cái tâm của trẻ thơ và cái tâm của Adam : Ở đứa trẻ thơ, mới đầu cái tâm cũng trống trải thanh tịnh như tâm của Adam trước khi ăn trái cấm vậy, đó là tâm của người đang ở  trong vườn Eden. Thế rồi theo tháng năm lớn lên đồng thời tiếp xúc với người xung quanh, nhiễm dần tánh phân biệt, để rồi khi thành người lớn như chúng ta thì tâm tràn đầy những phân biệt nhị nguyên, đó cũng là tâm Adam sau khi đã ăn trái cấm. Bây giờ con đường trở về phải là tiến trình ngược lại. Đó là lý do tại sao đức Jesus cứ nhất mực cho rằng:
 
“Nếu anh em không quay lại mà trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời . Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” (Mt 18,3)
 
 
 hay:
 
“Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng.” (Mt 19,14)
 
Ở trẻ thơ, tâm hồn chúng thảnh thơi. Khi buồn ngủ chúng thảnh thơi ngủ chẳng hề thao thức, vì không vướng mắc gì cả. Chúng ta thì khác, nhiều khi phải thao thức vì những chuyện được, mất, vui, buồn, giận, ân, oán, thương, ghét, tiếc, lo... nói chung là phiền não. Trong mọi sinh hoạt khác của cuộc sống cũng thế, ta sống chung với phiền não, còn trẻ thơ sống với tâm hồn đơn giản, bình thường, và tâm bình thường là tâm đạo (bình thường tâm thị đạo). Ý đức Jesus muốn nói nếu tâm ta trở về giống như tâm trẻ thơ đó (tâm chứ không phải trí), là chính ta đang ở nơi Nước Trời vậy.
 
Ở đây ta chỉ nói tới chữ TÂM của đứa trẻ hay tâm Adam mà thôi, bởi vì tôn giáo là lãnh vực của chữ tâm. Một người vẫn có thể có cái TRÍ của một nhà bác học, với cái TÂM hoàn toàn vị tha đi song hành. Vị tha là quên mình để sống cho tha nhân, tức là không còn phân biệt nhân-ngã, là vô ngã. Sống vị tha hay vô ngã thì không bị tranh giành, hơn thua, được mất..., tức là không bị phiền não, quấy rầy tâm can mình. Đó cũng chính là cái TÂM của trẻ thơ.
 
Và hình ảnh trẻ thơ vẫn được dùng tượng trưng những thiên thần.
 
6.2.- Hạ mình.
 
Ngoại trừ những bậc đã giác ngộ, bất kỳ ai cũng "duy ngã độc tôn". Cái Ta càng nâng cao so với người khác, tức là tâm “phân biệt nhân-ngã” càng rõ rệt, thì càng đưa ta xa cái bản tâm của Adam khi chưa ăn trái cấm. Vậy con đường trở về là giảm nhẹ cái Ta, dần tới lúc không còn phân biệt người và ta nữa. Đó là lý do tại sao đức Jesus nói :
 
"Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên", trích trong đoạn dụ ngôn sau đây:
 
“Có hai người lên Đền thờ cầu nguyện: một người Biệt phái và một người thu thuế. Người biệt phái đứng riêng một mình cầu nguyện rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, tạ ơn Chúa, vì tôi không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi.’ Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ’Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ Tôi nói cho các ông biết: người nầy khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên’’(Lc 18,10 - 14).
 
Lời nói của người biệt phái cho ta thấy ông ta tự tôn mình lên (tốt) và miệt thị người khác (xấu), là còn mang tâm phân biệt nhân-ngã qúa nặng. Tôn cái ta lên là tự cao là kiêu mạn, như vậy là ông ta tự đưa mình xa rời cái bản tâm vô phân biệt Ta-Người, rời xa cái "Thiên Đàng tại tâm" của ông ta vậy. Đó là "tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống" (“hạ xuống” là rời xa thiên đàng, “tôn lên” là tới gần với thiên đàng, mà thiên đàng chính là ở cái tâm của người không còn mang tâm phân biệt nhân ngã)
 
Còn người thu thuế không so sánh phân biệt mình với ai, chỉ một mực cho rằng mình còn nhiều lỗi lầm cầu xin được cứu giúp để sửa đổi. Đó là ông tự hạ mình, và tới gần với cái tâm vô phân biệt hay là "Thiên Đàng tại tâm" của ông ta, tức là được nâng lên.
 
“Hạ mình xuống” chính là quên cái ta, để tiến tới xóa bỏ phân biệt Ta-Người, đó cũng chính là “vô ngã” trong đạo Phật.
 
Đức Jesus dạy môn đệ hạ mình: "... Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau." (Ga 13:14)
 
"...Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ,..." (Mc 10:45)
 
6.3.- Giữ cho tâm trống trải thanh tịnh.
 
"Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ" (Mt 05,3), là mối phúc thật đầu tiên trong tám mối phúc thật trong “bài giảng trên núi” của đức Jesus.
 
"Tâm hồn nghèo khó" tâm hồn của một người không ích kỷ, không còn tham lam, không tranh giành cho tư lợi để được giàu sang cho bản thân mình để hơn người khác, nên trong lòng trống trải thanh tịnh vì không vướng mắc chuyện được mất, hơn thua, kiêu căng hay ganh tị.... Nếu họ có khả năng tạo ra của cải thì việc tạo ra của cải để phục vụ cho mọi người, trước hết là những người bất hạnh, đem niềm vui hạnh phúc đến cho họ, lấy hạnh phúc của người làm hạnh phúc của mình. Cái hạnh phúc hoàn hảo nhất cho một người là đem được hạnh phúc niềm vui đến cho nhiều người khác, đồng thời giới hạn những dục vọng của riêng mình; ví dụ như những lời nói sau đây của những người đã cảm nhận được hạnh phúc đó:
 
"Con đường đạt tới hạnh phúc là đem lại hạnh phúc cho những người khác." (Robert Green Ingersoll)
'Không có gì cao qúi và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho nhiều người." (Ludwig Van Beethoven)
................. 
"Tôi học được cách tìm thấy hạnh phúc của mình bằng sự giới hạn những dục vọng hơn là thỏa mãn chúng." (John Stuart Mill)
 
Một người nghèo của cải nhưng vẫn mang tâm tham lam, quay cuồng với tranh giành, hơn thua, được mất, vì chỉ lo cho cái TA, chỉ biết yêu TA hơn NGƯỜI khác, thì nước Trời thật là còn xa vời đối với con người đó. Người đó là người giàu (tâm ý tham giàu) theo ý của đức Jesus, và chẳng thể nào có được hạnh phúc chân thật.
 
Còn với một ông giàu của cải, do cái tài năng của ông tạo ra chứ không phải do tham lam, bóc lột hay lừa đảo, nhưng ông lại có lòng vị tha, không vị kỷ, nên lòng không tham, sân, si, kiêu, ganh tị, không vướng mắc lo buồn chuyện hơn thua, được mất, giàu nghèo, vui buồn,..., ông làm việc chỉ như người cần mẫn quản lý của cải cho mọi người, không chỉ vì mình mà vì hạnh phúc mọi người trong xã hội, lấy hạnh phúc của tha nhân làm hạnh phúc của mình, "yêu tha nhân như yêu bản thân", đấy chính là người có tâm không phân biệt, có tánh không hai. Con người "giàu của cải" ấy dưới cái nhìn của đức Jesus là người có "tâm hồn nghèo khó", và... ông là người có hạnh phúc chân thật, và nước Trời đang ở ngay trong tâm hồn ông. 
 
6.4.-Để trở về với thiên đàng đã mất.
 
Trở về với thiên đường đã mất cũng có nghĩa là trở về với cái tâm ban đầu của Adam, hay là “bản tâm”, cái tâm chưa biết cái Ác là gì, nên cũng chưa có chữ Thiện đi kèm, do đó chưa biết phân biệt Thiện/Ác.
 
Chúng ta đang ở trong thế giới của tâm phân biệt, của thiện-ác. Để trở về với cái tâm không phân biệt thiện-ác không phải là ta bịt tai nhắm mắt để không phân biệt thiện-ác, đó là bệnh… mất trí, không phải là cái bản tâm của Adam, vì TÂM khác với TRÍ. 
 
Khi đã ở trong thế giới thiện-ác như xã hội chúng ta bây giờ, ta lại càng phải tỉnh táo dùng lý TRÍ để phân biệt minh bạch giữa thiện và ác, để ngăn chặn, trấn áp và tiêu diệt cái ác. Khi cái ác đã bị tiêu diệt, thì ý niệm về thiện cũng mất, cũng giống như một vật đặt trước cái gương, có cái ảnh trong gương, nhưng khi vật không còn nữa thì ảnh cũng biến mất, đó chính là lúc ta trở vể với cái tâm “không thiện không ác” ban đầu của Adam, trở lại với vườn Ê-đen, thiên đường đã mất.
 
Làm sao để diệt cái ác? ─ Cái ác do ganh tị, kiêu mạn, tham, sân, si sinh ra, nên muốn diệt cái ác thì phải diệt lòng ghen tị, tính kiêu mạn, tham sân si.
 
Làm sao để tiêu diệt ganh tị, kiêu mạn, tham sân si? ─ Ganh tị, kiêu mạn, tham sân si, do “tâm phân biệt nhân ngã” hay “duy ngã độc tôn” sinh ra, nên muốn tiêu diệt tham sân si, kiêu mạn, ganh tị ta phải bỏ tâm phân biệt nhân ngã.
 
Bỏ “tâm phân biệt nhân ngã” có nghĩa là xóa bỏ ranh giới phân biệt giữa người và ta, sống hòa đồng với người, sống vì tha nhân, sống vị tha không vị kỷ. Đó là ý nghĩa của lời đức Jesus “hãy yêu tha nhân như chính mình” (Mt 22,39).

Nhưng làm sao “yêu tha nhân như chính mình”?
─ Vấn đề là ở đây!
 
Nếu thật lòng cho đi (ví dụ: bố thí, làm việc thiện nguyện…) mà không cầu đền đáp, biết tha thứ và thực lòng tha thứ, biết nhận lỗi và thực lòng nhận lỗi, biết "vui với kẻ vui" (chứ không ganh ghét với kẻ vui), "khóc với người khóc" (đau cùng nỗi đau của kẻ khác)… thì mới bớt được lòng tham, thù oán sân hận, và tính kiêu mạn lẫn ganh tị...Khi giảm được tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, thì sự phân biệt Ta-Người mới giảm, để rồi dần dần xóa hẳn biên giới giữa ta và người, “yêu tha nhân như  chính bản thân mình”,... "những gì ta muốn người khác làm cho ta, thì ta làm điều đó cho người"... Ta với Người hòa đồng, không còn phân biệt nữa, mọi hành động của Ta là vì hạnh phúc của Người, và hạnh phúc của Người chính là hạnh phúc của Ta.
 
Yêu người như bản thân thì không sinh cái Ác, không Ác thì cũng không có chữ Thiện, nên không có sự phân biệt Thiện/Ác; đó là trở về với bản tâm ban đầu của Adam (lúc chưa biết phân biệt thiện/ác), là trở về với vườn Eden, thiên đường đã mất. Lúc đó trong ta chỉ còn “tình yêu” đối với mọi người, cũng có nghĩa là ta đã thấy Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Tình Yêu”. 
 
Nói thì đơn giản, nhưng đó là con đường gai góc, là "khung cửa hẹp", không ai có thể ban cho ta được, mà cần phải có ý chí và quyết tâm, là chiến đấu với chính bản thân mình để sửa cái tâm mình, mà phương pháp là theo lời dạy của đức Jesus.
 
Chiến thắng chính bản thân mình là điều rất khó khăn: "Chiến thắng trăm vạn hùng binh ngoài chiến trường không bằng thắng chính mình. Chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất" (lời đức Phật).
 
Trên con đường tìm về đó, có những quyết định làm cho ta phải ray rứt, đau đớn tựa gươm chém giáo đâm ngay trong nội tâm mình, ví dụ như tha thứ và yêu thương kẻ thù, lấy ân trả oán ( mà đạo lý đời thường mà ta đã quen và coi như chân lý... là phải răng đền răng, mắt đền mắt, nợ máu phải trả bằng máu...), hoặc cho đi hay dứt bỏ những thứ mà mình mê say, làm sao đối diện và chiến đấu với sân giận và thù ghét..., Đó cũng là ý nghĩa trong lời đức Jesus:
 
"Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho thế gian; Thầy đến không phải để đem lại bình an, mà để đem gươm giáo" (Mt 10,34).
 
(“Bình an” ở đây có thể hiểu là sự bình an trong nội tâm của mỗi người, “gươm giáo” ý nói là sự đau đớn ray rứt như gươm chém giáo đâm khi phải chiến đấu với chính nội tâm mình. [1] )
 
Và thánh Phaolô diễn tả cuộc chiến nội tâm khó khăn ấy như sau: "Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều gì tôi ghét thì tôi lại cứ làm" (Rm 7:15). Điều tôi muốn, là điều thiện, thì lại có cái gì xúi giục tôi không làm; nhưng những điều tôi ghét, là những cái ác, thì lại cũng có cái gì ẩn trong tâm, nó xúi giục tôi làm. Sự xung đột nội tâm của mỗi con người, nó ... kỳ quái như vậy!
 
Tóm lại, cuộc chiến với chính mình tạo xung đột trong nội tâm thường gây bất an và đau xót tựa như gươm chém giáo đâm, và chỉ đem lại bình an vĩnh viễn khi ta chiến thắng được chính mình. Chiến thắng ấy là biết "yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình" hay gọn hơn là hai chữ Tình Yêu. Tìm được Tình Yêu là tìm được Thiên chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu
 
Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8)
Thiên Chúa là tình yêu: ai ở trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy (1Ga 4,16).
"Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại" (Rm 13,10),

Đó
là hòa bình, là hạnh phúc, là bình an cho mọi người và cho chính mình. "Yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình" cũng chính là tâm không phân biệt TA/NGƯỜI vậy ./.
 
Trang  (1)  (2) (3)
Duy Đức
 
(Jul-2008)
 
Home                      Top               
___
GHI CHÚ:
 
[1] Ngoài ý nghĩa sự tranh đấu trong nội tâm, còn ý nghĩa về những khó khăn xung đột bên ngoài có thể xảy ra khi theo con đường của Chúa Giê-su:
 
"Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho thế gian; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa người ta với cha mình, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.  Kẻ thù của mình chính là người nhà." (Mt 10:34-36)
 
Con người thường ai cũng mang lòng vị kỷ và cho đó là điều tự nhiên, do đó ai cũng để lợi ích cá nhân và gia đình lên trên hết. Nếu bây giờ có người theo đường lối của chúa Giê-su, bỏ tính vị kỷ, để vì người, không phân biệt thân sơ ta/người, để "yêu người như yêu bản thân mình", như yêu cha mẹ, anh em mình..., san sẻ những gì mình hay gia đình mình có cho người ngoài (người dưng nước lã), thì có thể không tránh khỏi sự bất hoà trong gia đình vì tư lợi bị sứt mẻ, gây chia rẽ trong gia đình giữa con cái cùng cha mẹ, giữa anh em với nhau.... Hoặc là nếu có kẻ thù đối với gia đình cần phải báo oán, mà có người (theo con đường của chúa Giê-su) lại đòi lấy ân mà trả oán, lại nói "yêu kẻ thù và cầu nguyện cho họ", thì sao tránh được xích mích, xung đột trong gia đình. 
 
Theo cùng đức Giê-su là phải trừ bỏ những riêng tư vị kỷ, mà xem mọi người cũng như người thân thuộc của mình, không phân biệt ./.  
 
 


Website powered & layout © by TipTopWebsite.com