Niết Bàn
(Tâm Bất Nhị, Trung Đạo, Vô Ngã, Tánh Không, Bản Lai Diện Mục)
(1/2)
Trang:   (1)  (2)
1.- Duy Ngã Độc Tôn: nguyên nhân hàng đầu của phiền não.
Giáo lý Phật Giáo khởi đầu bằng một câu nói ngắn của đức Phật, lúc ngài mới đản sinh:
“Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn”.
Nghĩa là: từ trên trời xuống tới trần thế, (ai cũng tự cho rằng) chỉ có ta là tôn qúy hơn cả.
Câu nói nêu lên một sự thật về tâm lý con người, mà ai trong chúng ta cũng có thể nghiệm thấy trong đời sống hàng ngày, đó là : ai cũng tự cho rằng chỉ có cái TA (ngã) của mình là đáng qúy đáng yêu hơn hết, là quan trọng nhất, là hợp lý nhất, là đúng nhất, là không sai, là ưu tiên hơn, là đủ thứ hơn so với mọi người khác. Từ đó sinh ra tính vị kỷ hay ích kỷ, lòng tự ái, hầu như ai cũng đặt hạnh phúc của mình lên trên hết mà xem nhẹ hay quên đi hạnh phúc của người khác.
Khi nói đến cái TA (tôn qúy hơn) tức là để so sánh phân biệt với NGƯỜI (không bằng ta), đó cũng chính là “tâm phân biệt TA/ NGƯỜI” (yêu TA hơn NGƯỜI), hay “tâm phân biệt”, hay “nhân - ngã”, hay “chấp ngã” mà hầu như mỗi con người đều mang trong tâm mình.
Đó cũng chính là căn nguyên của tham, sân si, kiêu mạn, ganh tị…, và tiếp tục phát sinh thiện-ác, vui-buồn, sướng-khổ, ân-oán… Đó là những phiền não, xin được giải thích thêm ở các phần dưới.
2.- Lý Nhị Nguyên.

Khi đã mang cái tâm “duy ngã độc tôn”, vì có Ta nên có Người, nên cũng là “phân biệt nhân-ngã” hay “chấp ngã”. Đó là cái nhìn (bằng tình cảm) phân hai, hay là nhị nguyên: một bên là TA và bên kia là NGƯỜI khác. Ở đây ta chỉ nói tới cái TÂM phân biệt mà thôi, tức là cái tình cảm yêu cái TA hơn yêu NGƯỜI. Đó là cái tình cảm phân hai hay "nhị nguyên" đầu tiên, căn bản: tâm phân biệt Ta/Người.

Từ tâm phân biệt nhị nguyên Ta/Người, tự cho Ta là quan trọng nhất, Ta là đúng, Ta là không sai, Ta được quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn Người…, sinh ra Tham (muốn thâu tóm những cái hơn về Ta), Sân (khi nguời khác đụng chạm tới quyền lợi Ta, hay là phỉ báng Ta), Kiêu mạn (khi hơn, hay tự cho Ta là hơn người, nên có ý khinh người), ganh tị (thấy người khác hơn thì tức tối, ghen ghét). . .
Từ tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, sinh ra những tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo… để dành phần hơn về mình, do đó mà có được/mất, hơn/thua, thắng/bại, khen/chê, thiện/ác…, rồi tiếp tục sinh ra vui/buồn, yêu/ghét, giàu/nghèo, ân/oán, sướng/khổ, nuối tiếc / hy vọng, bạn/thù, thân/sơ, khinh/trọng, Đó là những cặp nhị nguyên thứ cấp. Sự sinh sôi nẩy nở này giống như một cái cây đâm rễ nhánh, hoặc là bướu ung thư cùng những di căn lan rộng.
DUY NGÃ ĐỘC TÔN (nhị nguyên)
Tham Sân Si, kiêu mạn, ganh tị
(Tranh giành, xung đột, thủ đoạn, lừa đảo...)
Được/mất, hơn/thua, thắng/bại, THIỆN/ÁC… (nhị nguyên)
Vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, giàu/nghèo, bạn/thù, ân/oán, thân/sơ… (nhị nguyên)
  
Con người ta quay cuồng vì những lăng kính nhị nguyên đó, cư xử đối đãi với nhau qua những cái nhìn  nhị nguyên như vậy : yêu thì cư xử khác, ghét thì đối đãi khác, bạn thì khác, thù thì khác, khen thì vui chê thì buồn, giàu cư xử khác, nghèo cứ xử khác, thấy người hơn thì ghét, thấy hơn người thì vui….Đó là nguyên nhân của phiền não, sầu muộn, mầm mống của tội ác, xung đột, chiến tranh, là đau khổ.
Như vậy, tâm nhị nguyên đầu tiên chính là tâm "phân biệt Ta/Người" hay tâm "duy ngã độc tôn". Đó cũng là nguyên nhân đầu tiên của phiền não, sầu muộn, mầm mống của tội ác, xung đột, chiến tranh và đau khổ.

3.- Niết Bàn và Đặc Tính Của Niết Bàn.

Vì phiền não, khổ đau, nên con người muốn tìm về nơi an tịnh để thoát khỏi những phiền não khổ đau đó. Nơi đó là cái đích cuối cùng mà trong Phật Giáo gọi là Niết Bàn.
3.1.- Đường Tới Niết Bàn.
Lời đức Phật: "Đồng nghĩa vơi Niết bàn, này các tỳ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng là nhiếp phục các lậu hoặc".
Và trong Tương Ưng Bộ Kinh, có nói tới con đường đi tới Niết bàn, như sau:
 "−Này hiền giả, thế nào là Niết Bàn?
− Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết Bàn.
− Có con đường nào, đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết Bàn?
– Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết Bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết Bàn ấy. “
  
Đoạn kinh nói trên cho ta thấy Niết bàn không phải là một cảnh giới nào đó bên ngoài, để khi một con người đau khổ, phiền não, được đặt vào đấy thì sẽ... được hạnh phúc, mà Niết bàn là cái trạng thái của nội tâm một con người, khi không còn tham sân si nữa.
Nếu đã diệt được “tham, sân, si” thì tâm ”duy ngã độc tôn” cũng không còn nữa (vì chính cái nhân “duy ngã độc tôn” sinh cái quả “tham sân si"). Như vậy, khi chứng Niết bàn cũng chính là không còn mang tâm “duy ngã độc tôn”, hay "phân biệt Ta/Người", cũng có nghĩa là không còn tâm "nhị nguyên đối đãi" nữa.
 
Đó là cái “hạnh phúc Niết-bàn”. Hạnh phúc này khác với “hạnh phúc đời thường”, vì hạnh phúc đời thường đặt căn bản trên “được” (trong cặp nhị nguyên được- mất), “hơn” (trong cặp nhị nguyên hơn-thua), “thắng” (trong cặp nhị nguyên thắng-bại), “giàu” (trong cặp nhị nguyên giàu-nghèo)…, còn "hạnh phúc Niết bàn" là cái hạnh phúc khi tâm không còn vướng mắc, dao động vì “được-mất, hơn-thua, thắng-bại, giàu-nghèo…”. Chữ “hạnh phúc” này chỉ là mượn chữ của đời thường để nói (thị danh) chứ vốn không có và không mô tả được mà chỉ có “tự chứng” mới cảm thấy được.
 
Sự tận diệt tham-sân-si để tới Niết bàn nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực tế thường là rất là khó khăn, cũng giống như chữa cái bướu ung thư cùng những di căn của nó vậy, phải diệt từng cái rễ di căn để rồi cuối cùng tới cái gốc của nó. Con đường như nói trong kinh nêu trên là “bát chánh đạo”, và tùy theo trình độ của mỗi người mà đức Phật đưa ra nhiều phương pháp như là những phương tiện để hướng dẫn ta đi, mà ta gọi chung là Phật pháp.

3.2.- Tâm Bất Nhị (Tánh Không Hai).

Nói một cách đơn giản thì "tâm bất nhị" là không còn "nhị nguyên" nữa. Đó là giữa TA và NGƯỜI không còn cái nhìn phân hai hơn thua nữa. Đó là yêu NGƯỜI như yêu chính TA, không hơn không kém, tuyệt đối bình đẳng, do đó  không còn tham, sân, kiêu mạn, ganh tị. Vì khi đó TA = NGƯỜI (không còn ranh giới giữa TA và NGƯỜI), NGƯỜI cũng chính như TA, thì không thể tham với chính TA, sân hận, kiêu mạn, ganh tị với chính TA !
 
Khi tham, sân, kiêu mạn, ganh tị không có mặt, thì cũng không có tranh giành, xung đột, nên: không được/ khôngmất, không hơn/ không thua, không thắng/ không bại… → do đó không hoan hỉ / không sầu muộn, không hạnh phúc / không khổ đau, không ân/ không oán, không thiện/ không ác …, không còn cái nhìn nhị nguyên nữa. Đó là "tâm bất nhị" hay "tánh không hai".
 
Theo lời đức Phật, tánh không hai chính là Phật tánh:
 
“Một là thường, hai là vô thường; còn Phật tánh thì chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, cho nên chẳng bị đoạn, đó gọi là không hai. Một là thiện hai là bất thiện, còn Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, đó gọi là không hai. Uẩn và Giới phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh của chúng không hai, tánh không hai là Phật tánh.”
 
Ở các ví dụ trong câu kinh này: thường/vô thường, thiện/bất thiện (ác), uẩn/giới (1) (“uẩn” tượng trưng cho con người, cũng có nghĩa là TA, “giới” là thế giới bên ngoài ta, nghĩa hẹp hơn là NGƯỜI khác hay CHÚNG SINH) là nhị nguyên, là cái tâm phân biệt của người thường.
“Chẳng phải thường / chẳng phải vô thường”, “chẳng phải thiện / chẳng phải bất thiện”, chẳng phải uẩn / chẳng phải giới: là “tánh không hai” hay “tâm không phân biệt”. Đó thường là tâm của các vị đã giác ngộ (đã tìm được Phật tánh), không còn bị dao động giữa hai trạng thái đối nghịch nhị nguyên nữa.
 
Còn lục tổ Huệ Năng thì nói “Phật pháp cũng là pháp không hai” ,  “pháp không hai” là phương pháp của đức Phật chỉ dạy cho con người trở về với “tánh không hai” hay là “tâm bất nhị”. Khi trở lại với tánh không hai là trở vể với Phật tánh. Phật tánh là tánh giác ngộ, mà giác ngộ nghĩa là chứng đắc Niết bàn.
 
Cũng lời Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh, nói về tánh không hai:
 
Ðừng nói có sáng , có tối . Ðừng hiểu rằng tu theo Ðạo là lấy Sáng trừ Tối , lấy Bồ Ðề phá Phiền Não , là vì phiền não tức bồ đề , chẳng khác nhau cũng chẳng phải hai . Nếu lấy trí huệ phá phiền não tức là chấp có hai của hàng Thanh Văn Duyên Giác . Hàng trí cao không thể làm như vậy . Ðối với sáng và tối, kẻ phàm thấy có hai , hàng Ðại Thừa thấy "bất nhị" (không có hai). Tánh "bất nhị" là thực tánh chân như . Thực tánh nầy bình đẳng ở muôn vật , bất cứ ở đâu, ở phàm phu không bớt , ở hiền thánh không thêm , ở phiền não không loạn, ở thiền định không lắng . Cái thấy "bất nhị" tuyệt đối ấy chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng đi, chẳng đến, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài , chẳng ở giữa, chẳng sinh, chẳng diệt , chẳng động , thường trụ chẳng dời . Ðó là Ðạo.”
Như vậy: Tâm bất nhị = Phật tánh = Niết bàn, và "tâm bất nhị" cũng chính là tâm "không phân biệt Ta/Người" hay "không duy ngã độc tôn", chính là cái đích đến của của tất cả các giáo môn, như lời Huệ Năng:
 
“…Điều lành (thiện) điều dữ (ác) tuy là khác nhau, chớ cái bản tánh không hai. Cái tánh không hai gọi là Thật tánh. Trong cái Thật tánh chẳng nhiễm điều lành điều dữ, ấy gọi là viên mãn báo thân Phật”.
....."người học đạo thì phải bỏ hết các niệm thiện, niệm ác. Cái tánh không hai ấy gọi là Thật tánh. Do nơi Thật tánh ấy mà lập ra tất cả giáo môn.Vậy nghe nói pháp rồi thì phải thấy tự tánh"
Tất cả các giáo môn được lập ra chỉ có một mục đích chung là chỉ cho con người trở về với "tâm bất nhị". Cũng có thể suy rộng là mọi tôn giáo được lập ra cũng cùng một mục đích ấy.
3.3.- Lý Trung Đạo.
 
Nếu bỏ được tâm nhị nguyên đối đãi, trở về với tâm bất nhị hay tánh không hai, ta không còn mang tâm phân biệt TA / NGƯỜI nữa, là xóa bỏ ranh giới tình cảm hơn thua giữa người và ta, nói gọn lại là “không ta, không người” (tình cảm đối với bản thân TA và NGƯỜI như nhau, không bên nào hơn, gọi là "không ta, không người"). Đó là con đường  giữa “người” và “ta”, không thiên về bên nào, gọi là trung đạo:
 
TA  <--  (Trung Đạo)  -->  NGƯỜI. 
 
Mặt khác “không ta, không người”, là không phân hai, cũng là tâm bất nhị. Vậy: Tâm bất nhị = Trung đạo
 
Khi ranh giới tình cảm giữa “người” và “ta” không còn (thương người như thể thương thân), thì tham, sân, kiêu mạn, ganh tị  cũng không phát khởi nữa, nên sự phân biệt hơn/thua, thắng/bại, được/mất cũng chẳng còn, tâm ta không còn mang ý niệm được hay mất, thắng hay bại, hơn hay thua… ta đi con đường giữa là “không được/không mất”, “không hơn/không thua”, “không thắng/không bại”,... đó cũng là trung đạo (cũng là “tâm bất nhị”), là con đường giữa, không ngả về phía cực đoan nào cả.
 
Khi không còn được/mất, hơn/thua, thắng/bại … thì chẳng còn lý do để sinh ác/thiện, vui/buồn, sướng/khổ, khinh/trọng, bạn/thù, ân/oán…Ta đi con đường giữa : “không thiện/không ác”, “không vui/không buồn”, “không khinh/không trọng”, “không bạn/không thù”, “không ân/không oán” (cũng là  “tâm bất nhị “)… không thiên về cực đoan nào cả. Đó là con đường giữa hay trung đạo. Người đã chứng Niết Bàn cũng là người đi theo trung đạo.
 
Có một lần được hỏi về sự hoan hỉ và sầu muộn, đức Phật trả lời :
 
“Hoan hỉ chỉ đến với người tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người tâm hoan hỉ. Không hoan hỉ, không sầu muộn, tâm ta không dao động” (được bình an, tự tại).
 
“Không hoan hỉ/không sầu muộn”, giữ được cái tâm như thế là “tâm bất nhị”, là đi con đường giữa, là “trung đạo” . “Tâm bất nhị” và “trung đạo” cùng mang cái nghĩa của Niết bàn: Tâm bất nhị = Trung đạo = Niết bàn.

3.4.- Vô Ngã.

"Tâm bất nhị" (tánh không hai) cũng là không phân biệt TA/NGƯỜI, mọi suy nghĩ, mọi hành động "vì TA" (vị kỷ, vị ngã) như thế nào thì cũng "vì NGƯỜI" (vị tha) như thế, không nghiêng về bên nào, TA với NGƯỜI bình đẳng, như nhau. Vị trí đứng giữa TA (ngã) và NGƯỜI, không thiên vị ấy, là nghĩa của VÔ NGÃ:
 
NGà <--  (Vô Ngã)  -->  NHÂN.
 
Và VÔ NGÃ cũng giống như ý nghĩa "trung đạo" là đứng giữa TA và NGƯỜi, không thiên vị bên nào:
 
 TA  <--  (Trung Đạo)  -->  NGƯỜI.
 
Như vậy VÔ NGÃ là cách gọi khác của "trung đạo" hay "tâm bất nhị" và tâm không phân biệt TA/NGƯỜI. Tâm bất nhị (tánh không hai) là Phật tánh thì VÔ NGÃ cũng là Phật tánh. Phật tánh là tánh đã giác ngộ, là Niết bàn thì VÔ NGÃ là Niết bàn.
 
Nếu biết "yêu người khác như chính mình", "thương người như thể thương thân", chính là không mang tâm phân biệt nhị nguyên Ta/Người, không dành riêng cho TA những ưu ái riêng mà hoà đồng bình đẳng với NGƯỜI. Đó cũng chính là ý nghĩa của VÔ NGÃ.
  
Cũng xin nhắc lại, khi nói "không phân biệt TA/NGƯỜI" là nói về phương diện tình cảm nơi TÂM thôi, nghĩa là ta không chỉ “yêu” cái TA hơn NGƯỜI như trước nữa mà tình yêu TA-NGƯỜI đã hòa đồng với nhau cho tới lúc không còn phân biệt ta-người nữa, lúc đó là sống vị tha, không chỉ vị ngã, là VÔ NGÃ.
 
3.5.- Tánh Không.
 
Tâm con người khởi đầu giống như tâm ông Adam hay tâm của trẻ thơ, chưa hề mang tánh nhị nguyên phân biệt Thiện/Ác, tức là chưa mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI (vì có cho rằng TA hơn NGƯỜI mới sinh cái ÁC) hay duy ngã độc tôn, nên không hề vị dao động, vướng mắc về những tình cảm đối nghịch phân hai như hơn/thua, yêu/ghét, thiện/ác... Cái tâm ấy gọi là bản tâm, hoàn toàn trống trải, giống như Lục tổ Huệ Năng nhận định "bản lai vô nhất vật":
 
Không ta, Không người (không phân biệt ta người)
từ đó Không tham, Không sân, Không kiêu man, Không ganh tị…
Không được, Không thua,
Không thắng, Không bại
Không hoan hỉ, Không sầu muộn,
Không thiện, Không ác
Không hạnh phúc, Không khổ đau,
Không thường, Không vô thường (hay không đoạn)
Không khứ, Không lai (không hối tiếc qúa khứ, không kỳ vọng ở vị lai)
Không sanh, Không diệt (không sợ hãi cái chết, vì không có gì để hối tiếc)
Không ân, Không oán, (vì không tham, sân, kiêu, ganh tị)
Không thân, Không sơ (mọi người đều bình đẳng) 
... và tổng quát hơn là:
Không CÓ cũng không KHÔNG…. (2)
 
Nghĩa là cái tâm trống rỗng những tình cảm phân biệt. Đó là tánh Không, một đặc tính khác của Niết Bàn. Đó là tính chất của bản tâm và cũng chính là "tánh không hai", là "trung đạo" là "vô ngã".
 
Ngày nay vì đã sống quen với tâm nhị nguyên, nên ta khó tưởng tượng con người lại có thể sống với cái tâm trống trải như thế. Nhưng thực sự đó là cái bản tâm, hay tâm thanh tịnh (cũng gọi là chân ngã, chân như, chân tâm, tự tánh, hay Phật tánh). Con người sống quay cuồng vì thiện ác, buồn vui, sướng khổ... hẳn cũng có lúc mệt mỏi chán chường mà tìm quay về với cái chân tâm mang tánh KHÔNG ấy.  
 
3.6.- Bản Lai Diện Mục.
 
“Bản lai diện mục” là “mặt thật xưa nay” : đó là con người với cái tâm ban đầu, là cái “bản tâm”. Cái tâm ban đầu là lúc chưa “phân biệt ta-người” hay chưa “duy ngã độc tôn”. Đó chính là hình ảnh của Niết Bàn, cũng thấy hình ảnh của ông Adam khi chưa ăn trái cây biết phân biệt thiện ác, hình ảnh vườn Ê-đen.
 
Cái tâm ấy (bản tâm) tới nay vẫn còn đó, nên gọi là “mặt thật xưa nay”, nhưng đã bị che lấp bởi những phiền não ở người còn mang tâm nhị nguyên đối đãi: hơn/thua, được/mất, thắng/bại, vui/buồn, sướng/khổ, giàu/nghèo, ân/oán… sinh ra do tâm duy ngã độc tôn. Những phiền não ấy chồng chất mãi từ ngày này qua ngày khác, khiến ta luôn quay cuồng với chúng, đến nỗi ta không còn nhận ra được cái “mặt thật xưa nay” ấy là đâu và nó ra sao, cứ như người lạc lối, bốn phương mịt mờ, không biết đâu là nhà để trở về nữa!
 
Như vậy “Bản lai diện mục” chính là con người khi chưa mang tâm phân biệt TA/NGƯỜI, chưa "duy ngã độc tôn", còn mang "tâm bất nhị", nên cũng là một cách nói khác của Niết bàn.
 
Tóm lại, Niết Bàn cũng đồng nghĩa với tâm vô ngã, bất nhị, trung đạo, tánh không và cũng chính là đã trở về với bản tâm thanh tịnh trống rỗng ban đầu, đó là bản lai diện mục:
 
Vô Ngã, Tâm Bất Nhị (tánh không hai), Trung Đạo, Tánh Không, Bản lai diện mục đều là tính chất chung của Phật tánh. Phật tánh cũng chính là Niết bàn, vì "phật" là giác ngộ, giác ngộ là Niết bàn..
 
  
Vô ngã = Tâm bất nhị = Trung đạo = Tánh không = Phật tánh = Bản lai diện mục = Niết bàn.

Đó cũng chính là cái tâm không còn phân biệt giữa Ta và Người, hay không còn tâm Duy Ngã Độc Tôn.
 
3.7.- Tóm Lại:
 
 
Vô ngã = Tâm bất nhị = Trung đạo = Tánh không = Phật tánh = Bản lai diện mục = Niết bàn.
 
Đó cũng chính là cái “tâm không phân biệt giữa Ta và Người”, hay không "duy ngã độc tôn".
 
Tâm “không phân biệt TA/NGƯỜI” là không yêu TA hơn NGƯỜI khác, hay là “yêu NGƯỜI như yêu chính bản thân TA”.
 
Tới đây, xin trích một vài đoạn trong Kinh Đại Niết Bàn (3) , về liên quan giữa “tâm bất nhị” và Niết bàn:
 
"Niết bàn vốn không sự vui, do vì bốn điều vui nên gọi là đại Niết Bàn. Một là vì dứt những sự vui, chẳng dứt sự vui thời gọi là khổ, nếu có khổ thời chẳng gọi là thiệt vui. Vì dứt sự vui nên không có khổ, không khổ không vui mới gọi là đại lạc. Tánh Niết Bàn không khổ không vui nên Niết Bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi là đại Niết Bàn.”
 
- Niết bàn không có sự vui: -- chữ "vui" này là vui của phàm phu (do "được" trong cặp nhị nguyên "được/mất")
- do vì bốn điều vui nên gọi là Đại Niết Bàn: -- chữ "vui" này là vui Niết bàn (do không được/không mất) . Bốn điều vui này là "thường, lạc, ngã, tịnh" (4) là tính chất "hấp dẫn" của Niết bàn.
- Một là vì dứt những sự vui (phàm phu): chỉ có một đường duy nhất là dứt những cái vui phàm phu, mới đạt được niềm vui Niết bàn.
- chẳng dứt sự vui (phàm phu) thời gọi là khổ: -- Còn đeo đuổi niềm vui phàm phu, thì nỗi buồn khổ thế nào cũng tới, ta gọi chung "buồn/vui" bằng chữ "khổ"
- nếu có khổ thì chẳng gọi là thiệt vui: -- nếu còn mang cái khổ (do buồn/vui) thì không có cái vui Niết bàn (thiệt vui).
- vì dứt sự vui nên không có khổ: -- vì bỏ được cái vui phàm phu (không vướng mắc được/mất hơn/thua) nên không có khổ.
- không khổ không vui mới gọi là đại lạc: -- không khổ/không vui (phàm phu) là cái vui lớn của người giác ngộ, vì không vướng mắc được/mất, hơn/thua, ân/oán, thiện/ác....
- Tánh Niết bàn không khổ không vui (phàm phu) nên Niết bàn gọi là đại lạc. Do nghĩa nầy mà gọi Đại Niết bàn: -- Thường ta cứ tưởng Niết bàn là nơi thỏa mãn toàn bộ các ước muốn của mình, nên bây giờ dùng chữ Đại Niết Bàn để phân biệt, giống như nói ở ví dụ khác dưới đây, cũng trong kinh Đại Niết Bàn:

"Thế nào là Niết Bàn ?
Như người đói đặng chút ít cơm ăn thời gọi là được an vui. Như người bịnh được lành thời gọi là an vui. Như người kinh sợ đặng chỗ nương dựa thời được an vui. Như người nghèo cùng đặng châu báu thời được an vui. Như người quán xương trắng chẳng sanh lòng tham dục thời được an vui. Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Đại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đối."

Một ví dụ khác nói về hai cái vui khác nhau:

"Vui có hai thứ: Vui của phàm phu và vui của chư Phật. Vui của phàm phu là vô thường bại hoại, nên không có thiệt vui. Vui của chư Phật là thường là không biến đổi nên gọi là đại lạc. Lại có ba thứ thọ : Một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Bất khổ bất lạc đây cũng là khổ. Niết Bàn dầu cũng chẳng khổ, chẳng vui nhưng là thật vui, do đây nên gọi là Đại Niết Bàn.”

Cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc đều là cảm thọ của phàm phu, cho nên ở đây nói "bất khổ/bất lạc" phàm phu khác với "không vui/không buồn" của bậc giác ngộ ./.
 
 
                                                                                                                                                                                                                           Home                    Top                                                                                                     

Trang:   (1) 
(2)
 
 Duy Đức
(July/2008)
---------------------------
 
Ghi Chú:
 
(1) “Uẩn” lấy từ chữ “ngũ uẩn” là những yếu tố làm thành con người, mang nghĩa tượng trưng cho “con người”. “Giới” mang nghĩa của chữ thế giới, hay nghĩa của chữ “cõi” (tam giới = ba cõi). Phân biệt nhị nguyên Uẩn/Giới cũng là phân biệt Con người/Thế giới, hay với nghĩa hẹp hơn có thể hiểu là TA/NGƯỜI hay TA/CHÚNG SINH (NGƯỜI khác, hoc CHÚNG SINH tượng trưng cho thế giới bên ngoài TA)
 
(2) Trong kinh sách Phật giáo, đôi khi chỉ dùng cặp từ CÓ / KHÔNG để diễn tả những cặp nhị nguyên, ví dụ:
▪ hoan hỉ / sầu muộn,          ta có thể viết là:           “CÓ hoan hỉ / KHÔNG hoan hỉ”
▪ hạnh phúc / khổ đau,       ta có thể viết là:           “CÓ hạnh phúc / KHÔNG hạnh phúc”
▪ thường / vô thường,         ta có thể diễn tả một cách khác là   “CÓ thường / KHÔNG thường”
▪ thiện/ác                                     ta có thể nói                  “CÓ thiện / KHÔNG thiện
 
Do đó, ta cũng nghe cặp từ KHÔNG CÓ cũng KHÔNG KHÔNG, là một cách diễn tả tổng quát cái tánh Không, hay bất nhị. Ví dụ: “ không hoan hỉ /không sầu muộn”, ta có thể diễn tả một cách khác: KHÔNG "CÓ hoan hỉ” cũng KHÔNG "KHÔNG hoan hỉ” và trở thành “không có cũng không không”.
 
(3) Kinh Đại Niết Bàn, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh dịch.
 
(4) Bốn đặc tánh của Niết bàn "thường, lạc, ngã, tịnh":
       ─ Thường: 
* Thiện/ác, yêu/ghét, vui/buồn… có tính biến đổi, nên là VÔ THƯỜNG.
* Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… là đứng ở vị trí giữa (trung đạo) không ngả về bên nào cả, nên không còn vô thường nữa mà là THƯỜNG. Đó là ý nghĩa của chữ THƯỜNG trong “thường, lạc, ngã, tịnh”.
 
        Không thiện/không ác, không yêu/không ghét, không vui/không buồn… chính là tánh không hai, hay trung đạo.
         ─ Lạc : 
Đời sống phàm phu có vui có khổ, nhưng cảnh Niết bàn lấy sự không khổ/không vui (của phàm phu, do hơn/thua, được/mất...) làm cái đại lạc. Đó là cái nghĩa LẠC trong “thường, lạc, ngã, tịnh”. 

─ Ngã :
đức Phật nói “ngã” đây là chỉ Phật tánh, và ngài thường dùng chữ
“ngã chân thật”   hay “chân ngã”, cùng nghĩa với “bản tâm”, “chân tâm”, “chân như”, hay là “bản lai diện mục”.

─ Tịnh: là tính chất bình an, tự tại, không vướng mắc phiền não khi đã trở về cái “bản tâm” hay “chân ngã”. Lúc này là đã trở về cái tâm trống trải ban đầu (cũng gọi là bản lai diện mục), không chứa những phân biệt nhị nguyên hơn/thua, được/mất, yêu/ghét, ân/oán... nên gọi là "thanh tịnh", hay "tịnh". 
        Trong thực tế, phần lớn người đời có những mơ ước về "thường, lạc, ngã, tịnh" khác hẳn với những điều đức Phật muốn nói. Người ta muốn "thường" là muốn những cái gì mình thích thì còn mãi mãi, người ta muốn "lạc" là muốn được những gì mình ham muốn, người ta nghĩ "ngã" là muốn cái TA luôn luôn được tốt đẹp hơn người, người ta muốn "tịnh" là muốn được yên ổn với những cùng với những thứ mình đã giành giật được..., những cái "muốn" này đều xuất phát từ lòng tham, sân, si, hoặc từ cái gốc của chúng là "chấp ngã".
        Tuy nhiên, "thường,lạc, ngã, tịnh" nơi Niết bàn là cảnh giới tự chứng (chỉ có ai đã chứng mới nhận ra được), không thể diễn tả chính xác cho người khác, vì vượt ngoài ngôn từ của thế gian. Ví dụ, đối với phàm phu chỉ có "lạc" khi giành được "thắng" hay "được" hay "hơn" trong những cặp nhị nguyên "thắng/bại", "được/mất", "hơn/thua", nhưng khó có thể tưởng tượng được lại có cái "đại lạc" trong cái "không thắng/không bại", "không được/không mất", "không hơn/không thua".... Vì thế, để cho người đời thường tạm hiểu, đức Phật đã phải mượn ngôn từ đời thường (thường, lạc, ngã, tịnh) mà diễn tả, để cho thấy sự tốt đẹp, hấp dẫn của Niết bàn để theo các pháp của ngài mà tu tâm.
 
 
 
                                                                               
 
___
 
 

 


This website is powered by TipTopWebsite.com